Thông tin thời tiết
Nhiều mây, không mưa. Độ ẩm 88%
Liên kết Website
Báo điện tử
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 12.898.928
Báo cáo số 3118/BC-BNN-VP, ngày 31 tháng 10 năm 2011 về công tác tháng 10 năm 2011
Ngày: 26/12/11

Thứ ba 01.11.2011, 15:57

Phần thứ nhất

KẾT QUẢ CÔNG TÁC THÁNG 10

I. KẾT QUẢ CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

1. Nông nghiệp

1.1 Về Trồng trọt

Các tỉnh miền Bắc: Tính đến ngày 15/10/2011, các tỉnh miền Bắc thu hoạch được 556 ngàn ha lúa Mùa, chiếm 47% diện tích gieo cấy. Nhìn chung, tiến độ thu hoạch lúa Mùa tại các vùng đều chậm so với cùng kỳ này năm trước do yếu tố thời tiết bất thường từ đầu năm đã đẩy vụ lúa Đông Xuân thu hoạch muộn hơn 1 tháng. Lúa Mùa thu hoạch muộn cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ gieo trồng cây vụ Đông 2011/2012. Tính đến trung tuần tháng 10, đã gieo trồng được 191 ngàn ha cây vụ Đông các loại, chỉ bằng 60% so với cùng kì năm trước. Trước tình hình đó Bộ đã có hướng dẫn về thời vụ, cơ cấu gieo trồng đảm bảo hiệu quả và chỉ đạo các địa phương chủ động bố trí diện tích các cây trồng ở mức hợp lý để không ảnh hưởng đến năng suất và lịch gieo cấy của vụ lúa Đông Xuân tới.

Các tỉnh miền Nam: Trong tháng 10, đã cơ bản kết thúc thu hoạch vụ lúa Hè Thu và tiếp tục thu hoạch lúa Thu Đông. Do yếu tố thời tiết bất thường, lũ ở vùng ĐBSCL năm nay về sớm, cường độ mạnh đã làm cho một số diện tích lúa Thu Đông mới được mở rộng ngoài hệ thống đê bao bị ngập làm giảm năng suất hoặc bị mất trắng, tuy nhiên, diện tích này không lớn. Tính đến ngày 15/10/2011, diện tích lúa Mùa xuống giống đạt 682,5 ngàn ha, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các tỉnh vùng ĐBSCL đạt 295 ngàn ha, bằng 97,2% so với cùng kỳ. Các tỉnh đang chuẩn bị xuống giống vụ lúa Đông Xuân 2011/2012, một số địa phương đã bắt đầu triển khai xuống giống trà sớm đạt gần 100 ngàn ha, bằng khoảng 80% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ xuống giống lúa Đông Xuân có phần chậm hơn so với cùng kì năm trước chủ yếu do các địa phương đang tập trung đối phó với lũ để cứu lúa Thu Đông đang trong giai đoạn chín và cho thu hoạch. Trước tình hình đó Bộ đã chỉ đạo các địa phương theo dõi chặt chẽ diễn biến con nước cuối tháng 10 và đầu tháng 11 để có các biện pháp hỗ trợ nhằm giữ vững lịch xuống giống vụ Đông Xuân vào cuối tháng 10 và trong tháng 11 để tránh một số diện tích lúa Đông Xuân bị khô hạn và ảnh hưởng mặn xâm nhập cuối vụ cũng như không ảnh hưởng tới tiến độ xuống giống của vụ Hè Thu sắp tới.

1.2. Về bảo vệ thực vật

Tình hình sâu bệnh trên lúa: Các tỉnh Bắc Bộ, miền Trung và Tây Nguyên: Bệnh lùn sọc đen xuất hiện và gây hại tại một số tỉnh, trong đó diện tích nhiễm ở các tỉnh Bắc Bộ là 1169 ha, các tỉnh Bắc Trung Bộ diện tích nhiễm là 113 ha; sâu cuốn lá nhỏ gây hại tập trung ở các tỉnh phía Bắc: Ninh Bình, Thái Bình… với diện tích nhiễm là 11.300 ha, nặng 500 ha; rầy nâu và rầy lưng trắng gây hại tập trung ở các tỉnh Bắc Bộ với diện tích nhiễm là 65.477 ha, nặng 8.933 ha, các tỉnh Bắc Trung Bộ với diện tích nhiễm 16.913 ha, nặng 1.040 ha. Ngoài ra còn có bệnh: đạo ôn lá, sâu đục thân, bệnh khô vằn... xuất hiện và gây hại ở mức độ nhẹ.

Các tỉnh Nam Bộ: Rầy nâu xuất hiện và gây hại tại một số tỉnh: Long An, An Giang, Tây Ninh... với diện tích nhiễm là 6.760 ha; bệnh đạo ôn lá: diện tích nhiễm 26.925 ha; bệnh đạo ôn cổ bông: diện tích nhiễm 1.873 ha; sâu cuốn lá nhỏ: diện tích nhiễm 13.947 ha; bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá: diện tích nhiễm  386 ha; bệnh bạc lá: diện tích nhiễm 7.130 ha.

Trên cây trồng khác: các loại sâu bệnh trên cây rau màu, cây công nghiệp… gây hại nhẹ.

1.3. Về chăn nuôi

Trải qua giai đoạn phục hồi, trong tháng 10/2011 tình hình sản xuất chăn nuôi và thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi có những biến động nhất định, tuy nhiên nguồn cung con giống và sản phẩm chăn nuôi phong phú và dồi dào hơn. Bộ tiếp tục chỉ đạo bám sát tình hình biến động sản xuất chăn nuôi và thị trường tiêu thụ một số sản phẩm chăn nuôi chính như lợn, gia cầm tại các vùng miền trên cả nước. Bộ có công văn chỉ đạo các Sở NN&PTNT đẩy mạnh phát triển sản xuất chăn nuôi theo kế hoạch đề ra; tiếp tục chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ theo nội dung Công điện số 17/CĐ-BNN-CN ngày 22/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc thúc đẩy phát triển chăn nuôi thực hiện Công điện số 1120/CĐ-TTg ngày 09/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Bộ cũng đã tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình sản xuất chăn nuôi 9 tháng đầu năm 2011, các giải pháp thúc đẩy phát triển chăn nuôi trong thời gian tới tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Trong tháng 10/2011, giá lợn thịt tương đối ổn định, giá gia cầm thịt giảm và có sự chênh lệch giữa hai miền, cụ thể: miền Bắc: Giá thịt lợn hơi xuất chuồng dao động trong khoảng 46.000 - 56.000 đồng/kg tùy theo loại giống và theo khu vực, bình quân so với tháng 9 giảm 3,8%; miền Nam: Lợn thịt xuất chuồng nuôi tại các trang trại, giá bán dao động 46.000 - 50.000 đồng/kg so với giá bình quân trong tháng 9 là 52.500 đồng/kg, giảm 8,6%. Giá gà thịt công nghiệp lông trắng: Giá dao động trong khoảng 29.000-32.000 đồng/kg, bình quân giảm 12,9% so với tháng 9/2011. Tại thời điểm hiện nay, giá ở miền Bắc từ 34.000-35.000 đồng/kg; miền Nam 32.000-34.000 đồng/kg. Tính đến thời điểm 30/9/2011 tổng đàn lợn cả nước đạt khoảng 27,2 triệu con, tăng 3,3% so với thời điểm tháng 4/2011 và vẫn đang có xu hướng tăng đến sát dịp Tết Âm lịch 2012. Trong đó, tổng đàn lợn nái hiện nay khoảng 3,9 triệu con. Theo ước tính tổng đàn gia cầm hiện có trên 320 triệu con, tăng trên 7%. Ước tổng khối lượng thịt hơi các loại sản xuất trong tháng 10/2011 đạt trên 380 ngàn tấn, tăng 7,9% so với tháng 9/2011.

So với thời điểm tháng 9/2011, trong tháng 10/2011 đa số nguyên liệu TĂCN chủ yếu có giá tăng nhẹ, chỉ có giá sắn lát giảm; giá thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt và gà thịt không tăng, giảm so với giá trung bình của tháng 9/2011, cụ thể[1]

1.4. Về Thú y

Tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm: Trong tháng 10/2011: Dịch lở mồm long móng đã xảy ra trên đàn trâu bò của 14 hộ gia đình trên địa bàn xã Hòa Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ AN làm 16 con ( 12 bò, 2 trâu, 1 nghé và 1 bê) mắc bệnh. Hiện cả nước có 01 tỉnh Nghệ An có dịch LMLM chưa qua 21 ngày, tỉnh Quảng Ngãi có dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày. Dịch tai xanh đã phát sinh ở 118 xã, 24 huyện thuộc 06 tỉnh là Tây Ninh, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam và Cần Thơ làm 23.301 con lợn mắc bệnh trên tổng đàn 38.275 con , tổng số tiêu hủy là 8.976 con lợn, hiện cả nước có 06 tỉnh có dịch tai xanh chưa qua 21 ngày: Tây Ninh, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam và Thành phố Cần Thơ.

Về công tác chỉ đạo phòng chống dịch bệnh: Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh tai xanh, Bộ đã có Công điện gửi các tỉnh Tây Ninh, Long An, Tiền Giang và Sóc Trăng, Quảng Nam về việc tăng cường công tác phòng chống bệnh tai xanh trên lợn. Tổ chức Hội nghị triển khai công tác phòng chống dịch tai xanh khu vực Nam Bộ với 21 Chi cục Thú y các tỉnh Nam Bộ. Tiếp tục hoàn thiện dự thảo Chương trình quốc gia phòng chống bệnh lợn tai xanh giai đoạn 2012- 2016 để trình Thủ tướng Chính phủ.

Về dịch bệnh trên thủy sản: Trong tháng 10/2011 bệnh đốm trắng gây thiệt hại 23,59 ha tôm nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh và Cà Mau. Ngoài ra còn có 4.454 ha tôm nuôi công nghiệp và bán công nghiệp, quảng canh và quảng canh cải tiến bị thiệt hại do hội chứng hoại tử ở gan tụy tại các tỉnh Ninh Thuận, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Bộ cử cán bộ xuống hỗ trợ và hướng dẫn người nuôi sử dụng hóa chất để xử lý mầm bệnh, cải tạo lại ao đầm nuôi.

2. Lâm nghiệp

2.1 Về trồng rừng và phát triển rừng

Trong tháng, thời tiết có mưa trên khắp cả nước nên khá thuận lợi cho công việc trồng rừng. Tuy nhiên, lũ lụt tại các tỉnh Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung làm ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ trồng rừng tại vùng này. Tính đến 20/10 kết quả thực hiện một số chỉ tiêu lâm nghiệp như sau: Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 149,7 nghìn ha, bằng 74,7% so với cùng kỳ[2]

Bộ tiếp tục chỉ đạo các địa phương thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2011 và chuẩn bị triển khai kế hoạch năm 2012. Chuẩn bị báo cáo tổng kết Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng và Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 51/2010/QH12 theo yêu cầu của Quốc hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Phê duyệt Dự án điểm điều tra, kiểm kê rừng đối với 2 tỉnh Bắc Kạn và Hà Tĩnh. Ban hành Thông tư hướng dẫn Quyết định số 73/2010/QĐ-TTg, ngày 16/11/2010 ban hành quy chế quản lý đầu tư xây dựng công trình lâm sinh.

2.2 Về công tác bảo vệ rừng

Theo báo cáo của các địa phương, trong tháng 10 trên toàn quốc xảy ra 1.169 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản[3]

            Trước tình hình đó Bộ chỉ đạo xử lý kiên quyết tình trạng phá rừng, theo dõi sát sao công tác phòng chống cháy rừng vào mùa khô, đặc biệt là vùng Tây Nguyên. Tổ chức Hội nghị về bảo vệ rừng ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ; triển khai Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.

3. Thuỷ lợi

3.1. Khai thác, sử dụng và bảo vệ công trình thuỷ lợi, công trình cấp, thoát nước nông thôn

Bộ chỉ đạo thường xuyên theo dõi tình hình mưa, bão, ngập úng ở các tỉnh miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long và chỉ đạo các địa phương phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai; tổng hợp việc thực hiện miễn thu thuỷ lợi phí của các doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi để đề xuất sửa đổi Nghị định 115/2008/NĐ-CP; tổng hợp đề xuất của địa phương về an toàn công trình; rà soát các dự án tiếp tục sử dụng vốn TPCP giai đoạn 2012-2015.

Thực hiện Chương trình nước sạch và VSMTNT: Cử đoàn công tác đi kiểm tra tình hình thực hiện công tác thủy lợi và nước sạch tại các tỉnh miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long; tổng hợp kế hoạch chương trình MTQG Nước sạch và VSMTNT năm 2012.

3.2. Quản lý đê điều, phòng chống lụt bão

Ban chỉ đạo PCLBTW thường xuyên theo dõi diễn biến của thời tiết để có chỉ đạo các biện pháp khắc phục hậu quả kịp thời.

             Đôn đốc các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện kế hoạch tu bổ đê điều thường xuyên; kế hoạch duy tu bảo dưỡng đê điều đảm bảo đúng kế hoạch, tiến độ để đưa vào phòng chống lũ, bão năm 2011. Hoàn thành Báo cáo về công tác phòng chống lũ quét cho các tỉnh miền núi phía Bắc; triển khai Chỉ thị số 447/CT-TTg ngày 25/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý vi phạm pháp luật về đê điều và quản lý việc khai thác, vận chuyển, kinh doanh cát sỏi gây ảnh hưởng đến an toàn đê điều; lập kế hoạch củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

 

4. Thuỷ sản

4.1. Về nuôi trồng thủy sản

Tại một số tỉnh miền Trung và Nam Bộ, mưa, lũ từ cuối tháng 9 đã gây thiệt hại nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản, trước tình hình đó Bộ đã đi kiểm tra tình hình thiệt hại của các địa phương và có các biện pháp chỉ đạo khôi phục sản xuất. Bộ đã tổ chức 3 Hội nghị tại 3 miền về Tổng kết vụ nuôi trồng thủy sản nước ngọt; thành lập đoàn đi kiểm tra tại tác tỉnh miền Nam: TP. Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau về tình hình sản xuất giống, thức ăn và chấp hành qui định về mua bán vật tư phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Ước sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tháng 10/2011 đạt 250 ngàn tấn, đưa sản lượng thủy sản nuôi trồng 10 tháng lên 2.413 ngàn tấn, tăng 5,5% cùng kỳ năm 2010.

4.2 Về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản

Theo báo cáo của các địa phương, thời tiết trong tháng có bão, áp thấp và mưa giông nên ảnh hưởng đến thời gian bám biển của thuyền nghề, một số tàu thuyền của ngư dân ít ra khơi đánh bắt, tuy nhiên ngư trường nhìn chung thuận lợi, sản lượng khai thác hải sản tính chung từ đầu năm đến nay vẫn tăng. Ước sản lượng khai thác thuỷ sản tháng 10/2011 đạt 226 ngàn tấn, đưa sản lượng thủy sản khai thác 10 tháng ước đạt 2.199 ngàn tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó riêng khai thác biển ước đạt 2.039 ngàn tấn, tăng 5,6%. Một số tỉnh có sản lượng khai thác biển đạt khá là: Kiên Giang 338 ngàn tấn, Bà Rịa –Vũng Tàu 219 ngàn tấn và Bình Thuận 153 ngàn tấn.

Bộ tiếp tục chỉ đạo thành lập các tổ đội đoàn kết trên biển nhằm nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản; tổ chức Hội nghị tổng kết Vụ cá Nam, triển khai Vụ cá Bắc năm 2011-2012; hoàn thành Tờ trình trình Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ diện rộng máy thu trực canh cho ngư dân cho toàn bộ khối tàu cá từ 20-90CV; làm việc với Bộ Tài nguyên và Môi trường về đề nghị đưa Hầu Thái Bình Dương, tôm Thẻ chân trắng ra khỏi danh mục sinh vật xâm hại ban hành kèm theo Thông tư số 22/2011/TT-BTNMT. Tổ chức 2 đợt tuần tra, kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ.

5. Quản lý chất lượng nông lâm sản và thuỷ sản

   Trong tháng 10/2011, đã thu 75 mẫu nhuyễn thể, 150 mẫu nước kiểm tra các chỉ tiêu độc tố sinh học biển, tảo độc, vi sinh vật, kim loại nặng. Kết quả: Các mẫu giám sát đều đạt yêu cầu. Các địa phương đã lấy 327 mẫu thủy sản nuôi, 07 mẫu cá tra giống/nước ương tôm giống, 15 mẫu thủy sản tại đại lý để phân tích dư lượng hóa chất, kháng sinh. Kết quả: phát hiện 01 cá rô đồng thương phẩm có dư lượng kháng sinh hạn chế sử dụng Enrofloxacin+Ciprofloxacin vượt mức giới hạn tối đa cho phép, phát hiện 01 mẫu cá tra thương phẩm có dư lượng hóa chất cấm Trifluralin. Bộ tiếp tục triển khai các hoạt động kiểm tra ngăn chặn tạp chất trên địa bàn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là 04 tỉnh trọng điểm Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang. Kết quả phát hiện một số cơ sở thu mua bị phát hiện kinh doanh tôm có chứa tạp chất. Đối với trường hợp vi phạm nêu trên Bộ đã phối hợp với các cơ quan có liên quan xử lý theo đúng quy định.

Trong tháng 10/2011, Bộ đã tổ chức 120 lượt kiểm tra điều kiện đảm bảo VSATTP cơ sở sản xuất thủy sản theo quy định của Việt Nam và quy định các thị trường có thỏa thuận song phương. Kết quả điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của đa số các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu và quy định của các thị trường, đối với các doanh nghiệp không đủ điều kiện đảm bảo VSATTP (04 doanh nghiệp xếp loại C, 01 doanh nghiệp xếp loại D) Bộ đã có văn bản xử lý theo đúng quy định.

Tiếp tục xử lý hồ sơ đăng ký nhập khẩu hàng hóa có nguồn gốc động vật và thực vật vào Việt Nam của một số nước (Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia…); xử lý các lô hàng thủy sản bị cảnh báo tại các thị trường (Hàn Quốc, Nhật Bản…).

Tiếp tục chỉ đạo các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện các qui định của Thông tư số “14” về kiểm tra, đánh giá cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp và sản phẩm nông lâm thủy sản.

 

6. Diêm nghiệp

Về tình hình sản xuất: Tính đến 20/10/2011 sản lượng muối ước đạt ước đạt khoảng 762.841 tấn (bằng 65% so với cùng kỳ năm 2010), trong đó: muối sản xuất thủ công đạt 591.755 tấn; muối sản xuất công nghiệp đạt 171.086 tấn. Diện tích sản xuất muối cả nước ước đạt 14.615 ha (bằng 96,7% so với năm 2010), trong đó: diện tích muối thủ công đạt 11.651 ha; diện tích muối công nghiệp đạt 2.964 ha. Lượng muối tồn trong diêm dân và một số doanh nghiệp sản xuất thời điểm 20/10/2011 khoảng 199.594 tấn, trong đó: Miền Bắc tồn 33.718 tấn; miền Trung tồn 47.485 tấn; Đồng bằng sông Cửu Long tồn 118.391 tấn.

Về giá muối: Nhìn chung giá muối trên cả nước có xu hướng giữ giá, riêng phía Bắc tăng nhẹ, hiện giá muối ở mức: Miền Bắc từ 900 - 1.500 đ/kg; Nam Trung Bộ: Muối sản xuất thủ công từ 500 - 700 đ/kg, muối sản xuất công nghiệp từ 750 - 1.000 đ/kg; Đồng bằng sông Cửu Long: Muối đen và vàng từ 700 - 1.000 đ/kg, muối trắng từ 900 - 1.700 đ/kg.

Tiếp tục theo dõi việc triển khai dự án cũng như hoạt động sản xuất của dự án muối công nghiệp Quán Thẻ, Ninh Thuận; theo dõi, đôn đốc triển khai thực hiện công tác dự trữ quốc gia muối; đôn đốc Tổng công ty Lương thực Miền Bắc xây dựng định mức phí trong bảo quản, xuất, nhập muối dự trữ quốc gia; tổ chức Hội nghị tổng kết công tác sản xuất kinh doanh muối niên vụ 2011 và triển khai Đề án thu mua muối và sản xuất, cung ứng muối iốt.

7. Về sản xuất mía đường

Tình hình tiêu thụ và cân đối cung cầu: Tính đến nay, cả nước hiện có 8 nhà máy đường đã đi vào sản xuất, tổng lượng mía ép được là 176.000 tấn, lượng đường sản xuất ra đạt 21.300 tấn (tương đương cùng kỳ năm trước). Giá mua mía 10 CCS tại ruộng của nhà máy là 1.000.000 đ/tấn. Lượng đường các nhà máy bán ra từ 15/9/2011 đến 15/10/2011 là 73.500 tấn (thấp hơn cùng kỳ năm trước 1.800 tấn), lượng đường tồn kho tại các nhà máy tính đến 15/10/2011 là 56.600 tấn, (cao hơn cùng kỳ năm trước 31.000 tấn).  

Về giá cả thị trường: Đường trắng loại I đã tính thuế VAT tại kho nhà máy như sau: Khu vực miền Nam giá từ 18.000 đến 18.500 đồng/kg (giảm 500 đ/kg so với tháng trước); khu vực miền Bắc và miền Trung giá từ 19.000 - 19.200 đ/kg.

8. Xuất khẩu, nhập khẩu

            Xuất khẩu: Khối lượng xuất khẩu phần lớn các mặt hàng nông, lâm, thủy sản tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi giá trị xuất khẩu tăng khá mạnh do giá tăng cao. Giá trị xuất khẩu nông, lâm và thủy sản tháng 10 ước đạt 2,2 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đầu năm lên 20,8 tỷ USD, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, các mặt hàng nông sản chính ước đạt 11,6 tỷ USD, tăng xấp xỉ 45%; thuỷ sản ước đạt 4,95 tỷ USD, tăng 23,2%; lâm sản đạt 3,4 tỷ USD, tăng 16,2%.

            Nhập khẩu vật tư phân bón: Tổng giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản và vật tư, nguyên liệu phục vụ nông, lâm, thuỷ sản tháng 10/2011 ước đạt 1,4 tỷ USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu nhóm hàng này lên 13,1 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ năm 2010 là 37,34%. Với đà tăng giá chung, vật tư nguyên liệu phục vụ sản xuất đang có tốc độ tăng giá nhanh hơn tốc độ tăng của sản phẩm. Trong đó: Phân bón ước đạt 450 ngàn tấn, đưa tổng lượng phân bón nhập khẩu 10 tháng ước đạt 3,5 triệu tấn với trị giá nhập khẩu 1,4 tỷ USD, so với cùng kỳ năm trước cả khối lượng và giá trị đều tăng lần lượt là 39,3% và 75,6%; thuốc trừ sâu và nguyên liệu ước đạt 50 triệu USD, đưa tổng nhập khẩu 10 tháng đầu năm đạt 508 triệu USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2010; gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 115 triệu USD, đưa tổng kim ngạch nhập khẩu 10 tháng đầu năm lên 1,1 tỷ USD, tăng 18,6% so cùng kỳ năm trước; thức ăn gia súc và nguyên liệu ước đạt 130 triệu USD, đưa tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong 10 tháng đầu năm ước đạt 1,8 tỷ USD xấp xỉ cùng kỳ năm trước; cao su đạt 25 ngàn tấn, kim ngạch 90 triệu USD, đưa lượng nhập khẩu 10 tháng đạt 293 ngàn tấn với kim ngạch 794 triệu USD, so cùng kỳ năm trước tăng 23,6% về lượng và 59,6% về giá trị.

9. Đầu tư xây dựng cơ bản

Vốn ngân sách thực hiện tháng 10/2011 ước đạt 218,376 tỷ đồng, nâng mức thực hiện 10 tháng lên 3.995,407 tỷ đồng, bằng 103,92% kế hoạch. Cụ thể: Vốn thực hiện đầu tư ước đạt 3.717,187 tỷ đồng bằng 106,49% kế hoạch năm (trong đó khối thuỷ lợi đạt 2.099,57 tỷ đồng, bằng 99,15% kế hoạch năm; khối nông nghiệp đạt 1.064,51 tỷ đồng, bằng 152 % kế hoạch năm; khối lâm nghiệp đạt 248,59 tỷ đồng, bằng 87,84% kế hoạch năm; khối thuỷ sản đạt 21,21 tỷ đồng, bằng 92,52% kế hoạch năm; chương trình trọng điểm PT&ứng dụng CNSH đạt 15,23 tỷ đồng, bằng 50,77% kế hoạch năm; khối Khoa học - Công nghệ đạt 38,9 tỷ đồng, bằng 74,66% KH; khối Giáo dục - Đào tạo đạt 82,5 tỷ đồng, bằng 90,66% KH; các ngành khác đạt 161,9 tỷ đồng, bằng 83,54% kế hoạch năm). Vốn thực hiện theo các mục tiêu nhiệm vụ cụ thể ước đạt 237,57 tỷ đồng bằng 85,83% kế hoạch năm. Vốn chuẩn bị đầu tư ước đạt 40,46 tỷ đồng, bằng 101,92% kế hoạch năm. Vốn trái phiếu Chính phủ ước đạt 3.345.142, bằng 95,58% kế hoạch năm.

10. Phát triển nông thôn

             Tổ chức đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo năm 2011 tại các tỉnh An Giang, Kiên Giang; chuẩn bị kiểm tra tại Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định. Tiếp tục hoàn thiện Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế cho các hộ gia đình nông dân nghèo. Chỉ đạo, đôn đốc các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án thành phần; đẩy nhanh tiến độ thực hiện thu hồi đất, giao đất và hỗ trợ sản xuất, đảm bảo cho các hộ tái định cư có đủ đất để sản xuất; thực hiện tốt việc quản lý, cấp phát vốn đầu tư và giải ngân cho công tác tái định cư; tăng cường công tác kiểm tra... Tiếp tục hoàn thiện Quyết định về Chính sách thúc đẩy phát triển liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản giữa nông dân với các đối tác kinh tế khác trong nông nghiệp, nông thôn. Hoàn thành dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch bố trí, ổn định dân cư các xã biên giới Việt – Trung giai đoạn 2011-2015. Hoàn thành tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư Dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn La năm 2012 trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt. Tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính trong việc triển khai thực hiện thí điểm BHNN tại 20 tỉnh báo cáo Ban Chỉ đạo. Xây dựng chế độ thông tin để tổng hợp, theo dõi tình hình triển khai thực hiện thí điểm BHNN tại 20 tỉnh, thành phố.

Kết quả thực hiện Dự án di dân, tái định cư các dự án thủy điện: Lũy kế đến ngày 18/10/2011, các tỉnh đã giải ngân được 11.915,27/13.490 tỷ đồng, đạt 88,33% kế hoạch giao (trong đó: Sơn La 6.872,22/7.470 tỷ đồng, đạt 92% kế hoạch giao; Điện Biên 2.879,32/3.700 tỷ đồng, đạt 77,82% kế hoạch giao; Lai Châu 2.163,73/2.320 tỷ đồng, đạt 93,26% kế hoạch giao). Riêng trong tháng 10 năm 2011, các tỉnh đã giải ngân vốn thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thủy điện Sơn La là 63,37 tỷ đồng (trong đó: Điện Biên 58,14 tỷ đồng; Lai Châu 5,23 tỷ đồng).

          11. Về sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, đổi mới nông lâm trường quốc doanh

Tiếp tục triển khai sắp xếp Doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ theo kế hoạch. Báo cáo giám sát đánh giá hiệu quả hoạt động và xếp loại doanh nghiệp năm 2010 với các Tổng công ty 90, Công ty thuộc Bộ quản lý. Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Chè Việt Nam và Tổng công ty Rau quả, Nông sản.

            II. VỀ CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC TRỌNG TÂM

  1. Về chỉ đạo xây dựng văn bản QPPL, chương trình, dự án, đề án

  1.1. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ: Theo kế hoạch, đến tháng 10/2011, Bộ phải trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 06 Đề án, văn bản QPPL. Kết quả: Bộ đã trình được 02 đề án: Đề án phát triển vùng sản xuất rau tập trung đảm bảo an toàn thực phẩm (Tờ trình số 3064/TTr-BNN-KH, ngày 25 tháng 10 năm 2011); Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng (Tờ trình số 2881/TTr-BNN-TCLN ngày 5/10/2011).

1.2. Ban hành văn bản theo thẩm quyền Bộ trưởng: Theo kế hoạch, tháng 9/2011 các đơn vị phải trình Bộ trưởng 18 đề án, văn bản QPPL. Kết quả đã ban hành 06 văn bản.

2. Về công tác qui hoạch, kế hoạch

Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển vùng sản xuất rau tập trung an toàn thực phẩm. Hoàn thành dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể nông, lâm lâm, thủy sản cả nước đến 2020 và tầm nhìn đến 2030; xây dựng Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và PTNT. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch phát triển ngành 5 năm 2011-2015. Rà soát, điều chỉnh kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản năm 2011; rà soát các dự án tiếp tục sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2012-2015. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 09/01/2011 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách năm 2011 và Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về các giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh vốn đầu tư năm 2011; báo cáo Thủ tướng Chính phủ tạm ứng vốn trái phiếu Chính phủ cho các dự án cấp bách năm 2011. Chuẩn bị các nội dung để thông báo kế hoạch vốn ngay sau khi được Chính phủ giao. Theo dõi sát tình hình thị trường lương thực; báo cáo Thủ tướng Chính phủ công tác chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất bảo đảm cung ứng thực phẩm bình ổn giá cả thị trường. Trình Thủ tướng Chính phủ xuất dự trữ Quốc gia hỗ trợ các tỉnh gặp khó khăn.

3. Về công tác tài chính

Giao số tiết kiệm 10% chi thường xuyên 9 tháng còn lại của dự toán năm 2011 cho các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ. Gửi Bộ Tài chính đề nghị thẩm định phương án phân bổ dự toán NSNN năm 2011 (kinh phí đề tài cấp nhà nước). Hoàn thành báo cáo tổng hợp quyết toán ngân sách thường xuyên năm 2010. Thẩm tra quyết toán dự án xây dựng cơ bản. Phối hợp với các đơn vị chức năng thẩm định đề cương, dự toán cho các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, dự án điều tra cơ bản, thiết kế quy hoạch, các dự án đầu tư xây dựng cho các đơn vị trực thuộc Bộ.

4. Về hợp tác quốc tế

Chuẩn bị nội dung và tham dự kỳ họp Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam - Cu Ba, trong đó trọng tâm hợp tác quan trọng là thực hiện Chương trình hợp tác Việt Nam – Cu Ba về sản xuất lúa gạo tại Cu Ba (2009 - 2015). Chuẩn bị Báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả kỳ họp Ủy Ban liên chính phủ Việt Nam – Mô-Dăm-Bích lần thứ 2 tại Mô-dăm-bích. Chuẩn bị nội dung họp Ủy ban liên Chính phủ Việt NamIran trong tháng 12/2011. Hướng dẫn các địa phương xây dựng dự án hỗ trợ kỹ thuật và dự án vay vốn ưu đãi của nước ngoài. Tiếp tục thực hiện các chương trình hợp tác với Châu Phi trong ngành Nông nghiệp. Chuẩn bị chương trình hợp tác Việt Nam-IFAD giai đoạn 2012 – 2017. Trình Thủ tướng Chính phủ về việc tăng vốn cho dự án HTKT do AFD tài trợ đi kèm dự án ADB5. Trình Thủ tướng Chính phủ về việc gia hạn Quan hệ đối tác cấp nước và vệ sinh nông thôn. Phối hợp với Bộ Y tế tiến hành các thủ tục mở rộng dự án giai đoạn 2011-2014 Dự án phòng chống dịch cúm gia cầm, cúm ở người và dự phòng đại dịch ở Việt Nam (VAHIP). Tiếp nhận và xử lý 15 thông tin và cảnh báo của EU về hàng nông sản và thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam vi phạm hoặc cần phải lưu ý những vấn đề thuộc lĩnh vực SPS.

5. Về khoa học công nghệ, khuyến nông

Bộ đã hoàn thành nghiệm thu các đề tài cấp Bộ. Thẩm định dự toán tài chính và phê duyệt danh mục nhiệm vụ KHCN cấp Bộ thực hiện từ năm 2012. Thẩm tra các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật giao trong năm 2010 để gửi Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định, công bố. Xét duyệt danh mục các dự án khuyến nông bắt đầu thực hiện từ năm 2012. Giao kế hoạch bổ sung cho nhiệm vụ KHCN đợt 2 thuộc Chương trình CNSH. Hoàn chỉnh các Đề án quỹ gen gửi Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định. Giao kế hoạch môi trường bổ sung đợt 2 cho các đơn vị. Xét duyệt danh mục các dự án khuyến nông bắt đầu thực hiện từ năm 2012.  Hoàn thiện dự thảo Chiến lược Công nghệ thông tin ngành Nông nghiệp và PTNT đến năm 2020.

6. Về công tác tổ chức cán bộ

Tiếp tục dự thảo sửa đổi Nghị định 01/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Giao chỉ tiêu biên chế công chức hành chính năm 2011 cho các cơ quan hành chính trực thuộc Bộ. Đề nghị Bộ Nội vụ xem xét bổ sung chỉ tiêu biên chế sự nghiệp cho các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ chưa có định mức biên chế năm 2011. Thực hiện việc tuyển dụng, tiếp nhận, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện Bộ quản lý. Tiếp tục thẩm định bổ sung danh sách giải quyết chế độ theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP.

7. Về công tác thanh tra, kiểm tra

Tiếp tục tiến hành các cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch. Tham gia Đoàn thanh tra của Thanh tra Chính phủ kiểm tra công tác đất đai tại một số tỉnh Nam Bộ. Tiếp tục xây dựng Dự thảo Nghị định về thanh tra Nông nghiệp và PTNT. Khảo sát xây dựng Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2012.

Công tác tiếp nhận, xử lý đơn thư:  Tiếp nhận: 35 đơn (KN: 18; TC: 14; ĐN: 03), trong đó đơn trùng: 08 đơn ( KN: 04; TC: 04), đơn tố cáo nặc danh: 01, đơn phải xử lý: 26 đơn  (KN: 14; TC: 09; ĐN: 03); trong đó: đơn thuộc thẩm quyền của các đơn vị thuộc Bộ: 08 đơn, đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương: 18 đơn (KN: 15; TC: 03). Thanh tra Bộ đã chuyển các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định.

Công tác tiếp dân: Đã tiếp dân 09 lần với 168 lượt người.

Phần thứ hai

CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC TRỌNG TÂM THÁNG 10 NĂM 2011

1. Nông nghiệp

1.1 Chỉ đạo thu hoạch nhanh lúa Mùa và triển khai gieo trồng cây vụ Đông, đặc biệt là cây khoai tây ở các tỉnh phía Bắc. Tổ chức Hội nghị Sơ kết sản xuất vụ Mùa và triển khai sản xuất vụ Đông Xuân 2011-2012. Chỉ đạo tập trung thu hoạch lúa Mùa và lúa Thu Đông, triển khai kế hoạch sản xuất vụ Đông Xuân 2011-2012 ở các tỉnh phía Nam. Chuẩn bị Hội nghị sản xuất rau, Hội nghị phân bón các tỉnh phía Nam. Hoàn chỉnh việc rà soát quy hoạch vùng cây ăn quả tập trung tại các tỉnh ĐBSCL.

1.2 Tiếp tục chỉ đạo các địa phương thực hiện tốt công tác phòng trừ, ngăn chặn dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa Thu Đông, lúa Mùa năm 2011, Đông Xuân sớm 2011-2012 ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Thực hiện tốt công tác điều tra dự tính dự báo sâu bệnh, phát hiện kịp thời và chỉ đạo quyết liệt công tác phòng trừ sâu bệnh trên lúa ở các tỉnh Bắc B, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Hướng dẫn các địa phương thực hiện các thủ tục liên quan đến việc thực hiện chính sách hỗ trợ phòng, trừ dập dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn và bệnh lùn sọc đen hại lúa tại Quyết định số 1459/QĐ-TTg.

1.3 Tập trung chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ liên quan nhằm thúc đẩy phát triển chăn nuôi ổn định, bình ổn thị trường và đẩy mạnh sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi những tháng cuối năm, đặc biệt là dịp Tết Nguyên đán 2012. Chỉ đạo các địa phương phát triển sản xuất chăn nuôi theo kế hoạch đề ra. Kiểm tra, đánh giá chất lượng VSATTP thức ăn chăn nuôi tại một số địa phương. Tiếp tục xây dựng chính sách chăn nuôi trong nông hộ, chăn nuôi trang trại công nghiệp. Tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn Việt Nam về thức ăn chăn nuôi.

1.4 Tiếp tục chỉ đạo quyết liệt công tác phòng chống dịch cúm gia cầm, LMLM, dịch tai xanh tại các địa phương. Chỉ đạo các địa phương tổ chức giám sát lâm sàng, lấy mẫu giám sát vi rút tại các địa bàn có nguy cơ cao nhằm phát hiện sớm và xử lý kịp thời, triệt để khi có ổ dịch cúm. Chỉ đạo các tỉnh phía Nam tổ chức tiêm phòng vắc xin. Chỉ đạo các tỉnh tiêm phòng vacxin LMLM thực hiện theo Quyết định số 975/QĐ-BNN-TY về việc phê duyệt chương trình quốc gia khống chế bệnh lở mồm long móng giai đoạn 2011 – 2015.

2. Lâm nghiệp

Báo cáo Quốc hội về Tổng kết Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2011 và chuẩn bị kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2012. Tiếp tục tập trung chỉ đạo công tác bảo vệ rừng, khai thác rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng và chống người thi hành công vụ tại các điểm nóng, vùng trọng điểm. Triển khai Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.

3. Thuỷ lợi

3.1 Tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên theo dõi tình hình ngập úng, hạn hán trên phạm vi cả nước. Tổ chức các đoàn đi các địa phương kiểm tra tình hình an toàn công trình, thực hiện cơ chế chính sách trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi. Phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Nghị định số 115/2008/NĐ-CP. Hoàn chỉnh dự thảo trình Thủ tướng Chính phủ Chương trình MTQG Nước sạch và VSMTNT giai đoạn 2011 – 2015. Tiếp tục tổng hợp kế hoạch chương trình MTQG Nước sạch và VSMTNT năm 2012. Kiểm tra tình hình thực hiện Chương trình Nước sạch và VSMTNT tại các địa phương.

            3.2 Đôn đốc các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện kế hoạch tu bổ đê điều thường xuyên; kế hoạch duy tu bảo dưỡng đê điều đảm bảo đúng kế hoạch, tiến độ. Tiếp tục tổng hợp báo cáo tiến độ thực hiện chương trình nâng cấp đê biển, xây dựng kế hoạch tổng thể thực hiện đến năm 2015. Tiếp tục triển khai xây dựng Luật phòng tránh và Giảm nhẹ thiên tai. Chỉ đạo các địa phương chủ động khắc phục hậu quả của lũ lụt ở các tỉnh miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, tổng hợp tình hình báo cáo Chính phủ.

4. Thuỷ sản

4.1 Tiếp tục theo dõi, phối hợp với các tỉnh đánh giá thiệt hại về nuôi trồng thủy sản do mưa, lũ tại các tỉnh miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ đạo thực hiện các giải pháp về xử lý môi trường, sản xuất giống và hướng dẫn thời vụ nuôi. Tiếp tục triển khai kiểm soát chất lượng giống, thức ăn, các cơ sở nuôi trồng thủy sản tại các địa phương và rà soát các quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản. Tiếp tục khảo sát, lựa chọn mô hình thí điểm áp dụng VietGAP tại 4 tỉnh ĐBSCL.

            4.2 Tổ chức đoàn công tác đến các địa phương để đôn đốc, tháo gỡ kịp thời các vướng mắc trong khai thác thủy sản cho ngư dân; phối hợp với các địa phương để làm rõ, tuyên truyền cho các tàu cá tránh vi phạm đánh bắt bất hợp pháp làm ảnh hưởng đến các lô hàng xuất khẩu vào EU. Tổ chức Hội nghị sơ kết 01 năm triển khai Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp tục triển khai các dự án thực hiện Chiến lược Phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến 2020.

  5. Triển khai thực hiện các biện pháp kiểm soát tăng cường hàng hoá thủy sản xuất khẩu vào Nhật Bản, Canada. Tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai kế hoạch phân tích nguy cơ về ATTP đối với các sản phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Đôn đốc, hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện Thông tư số 14/2011/TT-BNNPTNT. Thực hiện các chương trình giám sát ATTP nông thủy sản; tổ chức kiểm tra điều kiện đảm bảo ATTP cơ sở SXKD nông thủy sản năm 2011 theo kế hoạch. Phối hợp với các cơ quan chức năng triển khai các hoạt động ngăn chặn tạp chất có hiệu quả. Phối hợp với các cơ quan chức năng thuộc UBND TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh tiếp tục triển khai quản lý thực phẩm theo chuỗi đối với sản phẩm rau, thịt. Theo dõi, nắm bắt kịp thời các diễn biến của thị trường để đề xuất các giải pháp ứng phó đảm bảo ổn định thị trường xuất khẩu.

            6. Tiếp tục triển khai các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất nông, lâm, thủy sản; triển khai nhiệm vụ xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn cho các ngành hàng; hoàn chỉnh dự thảo Đề án nâng cao giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Triển khai thực hiện các nhiệm vụ về xúc tiến thương mại. Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình xuất khẩu thủy sản đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Tiếp tục hoàn thiện Chương trình Bảo tồn và Phát triển làng nghề.

            7. Tiếp tục hoàn chỉnh Đề án Chính sách thúc đẩy phát triển liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản giữa nông dân với các đối tác kinh tế khác trong nông nghiệp, nông thôn; Đề án “Hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân nghèo”. Tổ chức Đoàn công tác liên Bộ đi kiểm tra tình hình thực hiện Dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn La tại các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Hoàn thiện nội dung, thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định sửa đổi cơ chế hỗ trợ ngân sách thực hiện Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg. Phối hợp với Bộ Xây dựng ban hành Thông tư liên tịch về Quy hoạch nông thôn mới.

8. Hoàn thiện kế hoạch 5 năm của ngành theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể nông, lâm lâm, thủy sản cả nước đến 2020 và tầm nhìn đến 2030. Đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, hoàn thành kế hoạch năm 2011. Triển khai kế hoạch ngành nông nghiệp và PTNT năm 2012. Tiếp tục thực hiện rà soát, điều chỉnh vốn các dự án đầu tư theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ. Theo dõi sát thị trường và điều hành các mặt hàng nhạy cảm: lúa gạo, phân bón...

9. Giao dự toán NSNN 2011 còn lại cho các đơn vị khi Bộ Tài chính có văn bản thẩm định. Hướng dẫn, tổng hợp phân bổ dự toán NSNN năm 2012 khi Bộ Tài chính có Quyết định giao dự toán. Thẩm tra quyết toán các dự án.

10. Hoàn thiện kế hoạch nghiên cứu đề tài cấp Bộ giai đoạn 2012-2016. Thành lập Tổ thẩm định thẩm định tài chính, nội dung các nhiệm vụ KHCN bắt đầu thực hiện từ năm 2012. Kiểm tra tình hình thực hiện các nhiệm vụ môi trường hàng năm. Hoàn thiện Đề án giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp Việt Nam đến năm 2020. Thành lập các Hội đồng tuyển chọn/xét chọn các dự án khuyến nông bắt đầu thực hiện từ năm 2012. Tiếp tục Thẩm tra hồ sơ Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoàn thành năm 2010-2011 gửi Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định, công bố. Tham gia các đoàn kiểm tra, đánh gía các dự án khuyến nông Trung ương

11. Tiếp tục sửa đổi Nghị định 01/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tiếp tục phối hợp với các Bộ, Ngành có liên quan thực hiện các nội dung được phân công thuộc chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Kiểm tra việc thực hiện Chiến lược phát triển Trường của một số Trường thuộc Bộ. Tiếp tục triển khai Chương trình sơ cấp nghề phục vụ đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2011 theo Quyết định “1956” của Thủ tướng Chính phủ. Thẩm định bổ sung danh sách giải quyết chế độ theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP.

12. Triển khai các Đoàn thanh tra theo kế hoạch và đột xuất. Đôn đốc việc xử lý sau thanh tra và thực hiện các kết luận thanh tra. Thực hiện công tác thường trực tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư theo quy định. Chuẩn bị xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2012 và đôn đốc các đơn vị thuộc Bộ xây dựng kế hoạch thanh tra năm 2012. Tổng hợp, báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện NQTW 3 (khoá X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí”. Tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Nông nghiệp và PTNT.

            13. Tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định “59” và các Thông tư hướng dẫn kết hợp với vấn đề người đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp và  việc triển khai kế hoạch sắp xếp đổi mới doanh nghiệp sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch cổ phần hoá của Bộ giai đoạn 2011-2015. Triển khai việc thẩm định và phê duyệt kế hoạch 2012 cho các Tổng công ty và các doanh nghiệp. Tiếp tục đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá các Tổng công ty 90, Công ty TNHH 1 TV và các Công ty thuộc Bộ. Tổ chức Hội nghị về sắp xếp đổi mới nông lâm trường.

14. Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế; triển khai chương trình xây dựng các chương trình, đề án, văn bản quy phạm pháp luật năm 2011; thực hiện chương trình cải cách hành chính, hoàn thiện kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hoá thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ.

15. Tiếp tục triển khai các biện pháp để duy trì, phát triển sản xuất, đảm bảo tăng nguồn cung nông sản, nhất là thực phẩm, góp phần kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Rà soát các dự án đầu tư; tiết kiệm chi phí hành chính thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ./.

 

 Nơi nhận:                     

- VP Chính phủ (Vụ KTN, Vụ TH);                                         

- Văn phòng TW Đảng;

- Các đ/c lãnh đạo Bộ;                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  

- Các Sở NN&PTNT;

- Các đơn vị trực thuộc Bộ;

- Công đoàn ngành NN&PTNT;

- Đảng uỷ cơ quan Bộ;

- Công đoàn cơ quan Bộ;

- VP (TT, TH);

- Lưu: VT, TH.

 

 

 

 

 

 

Website:

www.omard.gov.vn

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

 

 

Đã ký

 

 

 

Diệp Kỉnh Tần

 



[1] Giá ngô 7.507,5 đ/kg (tăng 2,8%), khô dầu đậu tương 10.710đ/kg (tăng 5,0%), bột cá 21.000đ/kg (tăng 4%), cám gạo 7.350đ/kg (tăng 6,5%), sắn lát khô 6.090đ/kg (giảm 4,8%), Methionine 120.750đ/kg (tăng 2,3%), Lyzin 60.900đ/kg (tăng 6,8%). Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm không đổi: thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh gà Broiler trên 10.678 đ/kg, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh lợn thịt giai đoạn từ 60kg đến xuất chuồng khoảng 9.470đ/kg.

 

[2] Diện tích trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 18,6 nghìn ha, bằng 40,6% so với cùng kỳ; trồng mới rừng sản xuất đạt 131,1 nghìn ha, bằng 84,8% so với cùng kỳ. Diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 319,2 nghìn ha, tăng 10,8 % so với cùng kỳ; trồng cây phân tán đạt 170,5 triệu cây, tăng 0,3 % so với cùng kỳ. Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh đạt 698 nghìn ha, bằng 95,8 % so với cùng kỳ. Diện tích rừng được khoán bảo vệ đạt 2.333,7 nghìn ha, giảm 9,1% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác đạt 3.530 nghìn m3, tăng 12,2 % so với cùng kỳ.

 

[3] 147 vụ phá rừng trái pháp luật; 124 vụ khai thác rừng trái pháp luật; 02 vụ vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; 05 vụ vi phạm quy định về sử dụng đất lâm nghiệp; 61 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ động vật hoang dã; 438 vụ vận chuyển, buôn bán trái pháp luật gỗ và lâm sản; 62 vụ vi phạm về chế biến gỗ và lâm sản; 330 vụ vi phạm khác. Tổng số vụ vi phạm đã được xử lý là 1.052 vụ, trong đó xử phạt hành chính 1.045 vụ; xử lý hình sự 07 vụ. Thu nộp ngân sách gần 11 tỷ đồng. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 21,22 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 0,54 ha, diện tích rừng bị phá là 20,68 ha.