Đẩy mạnh chiến lược nuôi biển trong thời gian tới
Ngày: 15/07/2019

Sáng 12/7, Đoàn công tác Bộ NN-PTNT do Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường dẫn đầu đã đi kiểm tra nuôi biển trên vịnh Vân Phong, huyện Vạn Ninh (Khánh Hòa). Mục đích chuyến thị sát, kiểm tra nuôi biển của Đoàn Bộ NN-PTNT nhằm chuẩn bị cho chiến lược nuôi biển trong thời gian tới. 

Đoàn đã đến thăm khu nuôi cá chim vây vàng bằng lồng công nghệ Nauy do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I (gọi tắt Viện I) triển khai, với diện tích rộng 10ha.

Báo cáo Bộ trưởng, PGS.TS Phan Thị Vân, Viện trưởng Viện I cho biết, toàn khu nuôi có 20 lồng tròn, chu vi 60m nuôi cá chim vây vàng thương phẩm và 22 lồng vuông kích thước 5x5x5m dùng để nuôi cá giống bố mẹ, ương cá giống.

Lồng nuôi bằng chất liệu nhựa HDPE chịu lực, bão, gió mạnh. Thực tế, cơn bão số 12 (Damrey) đầu tháng11/2017 đổ bộ vào vịnh Vân Phong gió giật cấp 14 - 15 nhưng lồng không bị thiệt hại gì, trong khi các lồng bè nuôi của người dân bị san phẳng. Hơn nữa, lồng nuôi này có ưu điểm với độ bền tối thiểu 50 năm dưới biển. Hiện các lồng nuôi được Viện I làm chủ công nghệ sản xuất, lắp ráp nên chi phí đầu tư giảm hơn nửa so với ngoại nhập. Cụ thể, nếu ngoại nhập mỗi lồng này chi phí trên 1 tỷ, nhưng Viện I sản xuất chỉ từ 400 - 500 triệu đồng.

Cũng theo bà Vân, hiện khu nuôi biển của Viện I cho tổng sản lượng từ 200 - 250 tấn/năm, chủ yếu cá chim vây vàng. Đây là loài đặc sản Viện I hoàn toàn làm chủ công nghệ từ sản xuất giống, công thức phối trộn thức ăn cho đến quy trình nuôi.

Và, quy trình này tuyệt đối không dùng kháng sinh, sử dụng 100% thức ăn công nghiệp, tỷ lệ hao hụt thấp (tỷ lệ sống thường đạt trên 75%, có mẻ đạt trên 90% so từ lúc thả đến cuối vụ nuôi kéo dài 6 - 7 tháng). Hiện sản lượng cá thương phẩm được phục vụ trong nước và xuất khẩu sang Mỹ và các nước Trung Đông…

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết hiện ngành thủy sản đã đạt xấp xỉ 10 tỷ USD về xuất khẩu. Một trong những hướng tới đây chúng ta phấn đấu đảm bảo ngành thủy sản phát triển mạnh hơn, bền vững hơn, thì phải đặc biệt chú ý hướng tới nuôi biển.

“Chúng ta cần tổ chức lại cơ cấu ngành hàng khai thác, nhưng quan trọng hơn là tổ chức nuôi xa, đây là hướng tiềm năng rất lớn. Để thực hiện chiến lược này Bộ NN-PTNT giao cho các trung tâm, các viện nghiên cứu lớn chuẩn bị các bước. Trong đó nghiên cứu từ công tác giống, thức ăn, cho đến quy trình nuôi, trên cơ sở đó căn cứ để mở rộng ra 28 tỉnh thành duyên hải, nhất là khu vực trọng điểm", Bộ trưởng nhấn mạnh.

Trong chuyến công tác, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường  đã thăm Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III và gợi ý các nhà khoa học Viện III phải nhận dạng đúng tiềm năng, lợi thế phát triển ngành thủy sản trong thời gian tới. Bộ trưởng cho rằng, bên cạnh những đối tượng chủ lực hiện nay chúng ta phải đi sâu vào các phân khúc, tạo ra giá trị phù hợp kết hợp mở thị trường, chứ chỉ đi bán thô hiệu quả kinh tế không cao.

Tiềm năng nữa trong nuôi trồng thủy sản mà Bộ trưởng chỉ ra là thủy vực của hệ thống sông hồ của nước ta rất lớn. Riêng hệ thống Sông Đà 3 cấp (Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình) có 3 hồ lớn, thì phải có đánh giá tiềm năng chung và quy hoạch định dạng; từng thủy vực thì đối tượng nào phù hợp, để phát triển kích cỡ, quy mô đến sản lượng, tránh tình trạng phát triển tràn lan, không hiệu quả, gây ô nhiễm cho hạ nguồn, dịch bệnh.

“Vì vậy không chỉ Viện mà kể cả Bộ phải đặt nhiệm vụ phối hợp các địa phương định dạng, từ đó làm tiền đề nghiên cứu cho các nhà khoa học”, Bộ trưởng nói.

Về phương pháp, theo Bộ trưởng phải có chiến lược tổng thể, trong đó cần có những đột phá về đối tượng nuôi mũi nhọn và cho từng giai đoạn. Dồn sức vào nghiên cứu làm sao khi nhắc đến mình không ai qua được vì thế muốn phát triển phải đến với mình ở khía cạnh về giống, quy trình nuôi...

Bộ trưởng gợi ý trong nghiên cứu phải phối hợp với DN có chủ đích. Ví dụ nếu Viện III làm thành công con cá chình thì tư duy nghiên cứu sang cả lươn. Hiện Nhật Bản và nhiều thị trường rất thích con lươn, tiềm năng rất lớn.

Mặt khác chúng ta có 1,5 triệu tấn cá tra thì sản phẩm phụ của nó là đáy bùn, cực kỳ tốt. Nếu nuôi dưỡng được con lươn thì thị trường là mênh mông.

“Trong chuỗi kinh tế về nuôi cá tra, duy nhất còn bùn của con cá tra chúng ta chưa làm gì. Đây là hướng cần phải nghiên cứu, mở ra những triển vọng. Với lươn sẽ xuất khẩu tốt, nhu cầu lớn, như Nhật Bản thậm chí mua cá tra Việt Nam về làm giả món lươn. Do đó, chúng ta phải tận dụng các cơ hội để dồn sức nghiên cứu”, Bộ trưởng chia sẻ.

 

Theo NNVN
Xem tin theo ngày: