Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam-Trung Quốc: Hợp tác sản xuất và tiêu thụ chè, cà phê”
Ngày: 14/10/2019

Ngày 14/10/2019, nhân dịp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp nông thôn Trung Quốc Hàn Trường Phú thăm chính thức Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tổ chức Diễn đàn “Hợp tác  phát triển sản xuất và tiêu thụ chè, cà phê Việt Nam - Trung Quốc” do hai Bộ trưởng chủ trì nhằm tạo kênh kết nối giao thương, hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ chè, cà phê giữa hai nước.

Việt Nam là quốc gia có lợi thế và tiềm năng lớn trong sản xuất nông nghiệp nhiệt đới, thuận lợi để sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao, đa dạng, đặc trưng theo từng vùng, miền. Sản phẩm nông lâm, thủy sản của Việt Nam đã được xuất khẩu sang trên 180 thị trường trên thế giới, phủ khắp trên hầu hết các nước trên toàn cầu. Nhiều nông sản của Việt Nam giữ vị trí tốp đầu trên thế giới như lúa gạo, cà phê, chè, điều, hồ tiêu, thủy sản, đồ gỗ …

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đang chỉ đạo các đơn vị, địa phương tập trung xây dựng ngành chè, cà phê Việt Nam, thực hiện Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệpphát triển theo hướng hiện đại, bền vững, có tính cạnh tranh cao với các sản phẩm đa dạng, có chất lượng, an toàn, thu hút đầu tư, liên doanh liên kết nhằm phát triển lĩnh vực chế biến, mang lại giá trị gia tăng cao, nâng cao thu nhập cho nông dân và doanh nghiệp.

Trong đó, đối với ngành chè: Diện tích chè cả nước năm 2018 khoảng 125 nghìn ha, năng suất đạt gần 90tạ/ha và sản lượng đạt trên 1 triệu tấn búp tươi. Đến nay Việt Nam có thể sản xuất đủ các loại chè phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách hàng trên thế giới. Chế biến chè đang được nâng cấp và cải thiện cả về quy mô và công nghệ, cả nước có khoảng 257 doanh nghiệp chế biến chè quy mô công nghiệp, tổng công suất theo thiết kế là 5.204 tấn búp tươi/ngày, sử dụng 220.764 lao động sản xuất ra 193.618 tấn sản phẩm; hơn 500 cơ sở sản xuất, chế biến, công suất đạt trên 500.000 tấn chè khô/năm, trong đó:  Chè đen chiếm 60%, chè xanh chiếm 40% gồm chè sao lăn, xanh duỗi, và các loại chè đặc biệt như Ô long, Phổ Nhĩ, các loại chè hương, chè thảo dược….

Việt Nam là nước đứng thứ 7 về sản xuất chè toàn cầu. Việt Nam xuất khẩu chè sang 61 Quốc gia và vùng lãnh thổ, đứng thứ năm thế giới về xuất khẩu chèViệt Nam hiện nay đứng thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc về sản lượng và xuất khẩu chè xanh. Trong năm 2018 lượng chè xuất khẩu của cả nước đạt 128.000 tấn, trị giá đạt 219 triệu USD;

Đối với ngành cà phê, tổng diện tích cà phê cả nước đến hết năm 2018 đạt 688,4 ngàn ha, tăng 157.5 ngàn ha so với 10 năm trước (năm 2008), tăng 29.7%, sản lượng cà phê nhân xấp xỉ 1,62 triệu tấn, tăng 49 nghìn tấn.  Hiện nay, tình hình áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất cà phê bền vững nông dân trồng cà phê theo qui trình công nghệ, kinh nghiệm truyền thống chiếm 57,3%; tỷ lệ  áp dụng quy trình sản xuất và chế biến cà phê tiêu chuẩn quốc tế UTZ: 11%; áp dụng tiêu chuẩn 4C 17,5%; áp dụng tiêu chuẩn rừng mưa (RFA): 1,2%; áp dụng tiêu chuẩn VietGAP: 1,7%; áp dụng tiêu chuẩn khác: 11,3%. Công nghiệp chế biến cà phê Việt Nam có nhiều khởi sắc: chế biến cà phê nhân (97 cơ sở với tổng công suất thiết kế 1.503 triệu tấn, tổng công suất thực tế 1.256 triệu tấn (đạt 83,6%), rang xay (cà phê rang có 160 cơ sở với tổng công suất thiết kế 51.664,4 tấn sản phẩm/năm), hòa tan (chế biến cà phê hòa tan nguyên chất: hiện có 08 nhà máy quy mô lớn với tổng công suất thiết kế 36.480 tấn/năm, công suất thực tế đạt 97,9%; chế biến cà phê hòa tan phối trộn (cà phê “3 trong 1”, “2 trong 1”...): có 11 nhà máy quy mô lớn, tổng công suất thiết kế 139.850 tấn/năm, công suất thực tế đạt 81,6%).

Hiện tại, cà phê Việt Nam đã xuất khẩu trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, đứng thứ hai thế giới và dẫn đầu toàn cầu về cà phê robusta. Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 1,88 triệu tấn, trị giá 3,5 tỷ USD tăng gần 20% về lượng, tăng 1% về trị giá so với năm 2017.

Trung Quốc là một trong những thị trường lớn và truyền thống nhập khẩu nông sản Việt Nam. Với dân sốhơn1,42 tỷ dân,chiếm 18,7% tổng dân số toàn thế giới,và có hàng trăm triệu khách du lịch, nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm nông thủy sản của thị trường Trung Quốc phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa cũng như sản xuất chế biến hàng xuất khẩu là rất lớn và đa dạng, phong phú.Đối với nhóm hàng nông thủy sản, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, bình quân chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩu nông thủy sản của cả nước và chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại sang thị trường này. Tiềm năng và nhu cầu nhập khẩu các loại nông sản của Trung Quốc còn rất lớn. Xu hướng thay đổi thị hiếu tiêu dùng và tốc độ đô thị hóa nhanh tiêu thụ chè và cà phê tại Trung quốc ngày càng tăng cao. Tuy nhiên,Trung Quốc  mới chỉ là thị trường nhập khẩu xếp thứ 12 về cà phê với kim ngạchđạt trên 109 triệu USDvà đứng thứ 4 về chè của Việt Namđạt kim ngạch gần 20 triệu USD(đứng thứ 1 về cao su, rau quả và sắn các loại; đứng thứ 3 về gỗ và các sản phẩm gỗ; đứng thứ 5 về thủy sản);...

Diễn đàn này sẽ giúp các cơ quan nhà nước,địa phương, doanh nghiệp hai nước trao đổi hợp tác phát triểnsản xuất, chế biến và thương mại chè và cà phê Việt Nam – Trung Quốc; trao đổi, học tập kinh nghiệm từ đó giúp hai nướccó các định hướng trong sản xuất, chế biến nhằm phát triển thương mại đáp ứng yêu cầu, thị hiếu của thị trường;các doanh nghiệp trong lĩnh vực chè và cà phê hai nước trao đổi, tìm hiểu, tăng cường liên kết trong sản xuất, cung cấp nguyên liệu phục vụ chế biến và liên kết trong phát triển thị trường tiêu thụ, đảm bảo lợi ích chung của nhân dân hai nước.

omard.gov.vn
Xem tin theo ngày: