Ngành nông nghiệp vượt khó khăn, nỗ lực phấn đấu đạt mục tiêu phát triển
Ngày: 15/10/2019

Chín tháng đầu năm 2019, ngành nông nghiệp chịu tác động lớn bởi diễn biến bất thường của thời tiết gây hạn hán, lũ lụt ở một số nơi (Tây Nguyên, Bắc và Nam Trung Bộ); dịch tả lợn châu Phi bùng phát và diễn biến phức tạp; khó khăn về thị trường xuất khẩu, nhất là việc thay đổi sang nhập khẩu chính ngạch của thị trường Trung Quốc... Trong bối cảnh đó, toàn ngành đã nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức; tiếp tục phát huy hiệu quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khơi thông các nguồn lực cho phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Nhờ vậy, 9 tháng đầu năm toàn ngành đã đạt được những kết quả khả quan, nhiều lĩnh vực sản xuất của ngành vẫn đạt kết quả cao.

1. Những điểm sáng nổi bật

Một là,toàn ngành duy trì tăng trưởng khá đạt 2,02%, đã góp phần vào tăng trưởng chung của cả nước; trong đó thủy sản tăng cao 6,12%, lâm nghiệp tăng 3,98%.

Hai là,lĩnh vực chăn nuôi, do chịu ảnh hưởng lớn của dịch bệnh tả lợn châu Phi dẫn đến sản lượng thịt lợn giảm8,0%, giá trị sản xuất giảm 0,6%. Nhưng với sự quan tâm, chỉ đạo rất cụ thể, sát sao Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ[1]và sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, công tác phòng chống bệnh DTLCP đã phát huy hiệu quả, dịch bệnh có xu hướng giảm trong 04 tháng qua, góp phần quan trọng để kiểm soát dịch bệnh, duy trì sản xuất chăn nuôi lợn và chuyển đổi, gia tăng sản xuất chăn nuôi gia cầm, gia súc lớn, thủy sản... để đáp ứng thực phẩm thay thế thịt lợn... Nhờ vậy, sản lượng các sản phẩm chăn nuôi khác đều tăng, như: thịt trâu đạt 70,5 nghìn tấn, tăng 3,1%; thịt bò đạt 264,9 nghìn tấn, tăng 4,2%; thịt gia cầm đạt 931,4 nghìn tấn, tăng 13,5%; trứng đạt 9,2 tỷ quả, tăng 10,0%. sữa tăng 9,3%,...

Ba là,trong bối cảnh khó khăn về thị trưởng, giá hầu hết các mặt hàng nông sản giảm từ 10-15%, nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt 30,02 tỷ USD, tăng 2,7% so với với cùng kỳ năm 2018; trong đó giá trị xuất khẩu lâm sản chính đạt 7,93 tỷ USD, tăng 18%; đặc biệt có 06 nhóm/sản phẩm có giá trị XK trên 02 tỷ USD, gồm: Gỗ và sản phẩm gỗ (7,5 tỷ USD, tăng 16,8% và triển vọng sẽ đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 11 tỷ USD năm 2019.); cà phê (2,1 tỷ USD, giảm 21,8%), gạo (gần 2,24 tỷ USD, giảm 9,8%), hạt điều (2,4 tỷ USD, giảm 5,4%), rau, quả (2,15 tỷ USD, giảm 4,3%), tôm (2,4 tỷ USD, giảm 8,0%). Thặng dư thương mại đạt 6,86 tỷ USD, cao hơn khoảng 1 tỷ USD so với cùng kỳ 2018.

Bốn là,đến naycả nước đã có 4.554 xã (51,16%) đạt chuẩn nông thôn mới (vượt mục tiêu cả năm 2019 là 50%và Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới về đích trước 1,5 năm so với mục tiêu đề ra); có 100/664đơn vị cấp huyện (chiếm trên 15%) được công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (vượt 30 đơn vị cấphuyện so với mục tiêu cả năm 2019), có 7 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; bình quân cả nước đạt 15,32 tiêu chí/xã, không còn xã dưới 5 tiêu chí.

2. Tập trung đẩy mạnh xuất khẩu NLTS sang một số thị trường trọng tâm

Toàn ngành đã tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tháo gỡ các rào cản thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu; nhất là việc tập trung tháo gỡ khó khăn với thị trường Trung Quốc, mở cửa các thị trường mới đối với nhiều sản phẩm xuất khẩu, như xoài vào Mỹ[2], Anh, Úc... Tính đến hết tháng 8/2019, giá trị xuất khẩu nông sản từ Việt Nam sang Trung Quốc đạt 5,31 tỷ; Hoa Kỳ đạt 5,35 tỷ USD; nhập khẩu nông sản từ Trung Quốc vào Việt Nam là 1,53 tỷ và Hoa Kỳ là 2,51 tỷ USD.

Trước tác động từ xung đột thương mại Mỹ - Trung Quốc tới ngành nông nghiệp, thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Bộ Công thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện các giải pháp: i) đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn chia sẻ thông tin, hỗ trợ xuất khẩu nông sản sang thị trường Trung Quốc; định kỳ 3 tháng/1lần tổ chức họp trao đổi, phối hợp với UBND các tỉnh biên giới để kịp thời nắm bắt, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để xử lý hoặc phản ánh đến các cơ quan hữu quan phía Trung Quốc kịp thời tháo gỡ. ii) tiếp tục đàm phán, mở cửa thị trường, tháo gỡ rào cản cho sản phẩm nông, thủy sản như: xuất khẩu lô sữa đầu tiên sang Trung Quốc vào tháng 10/2019; đẩy nhanh tiến trình đánh giá rủi ro để xuất sớm xuất khẩu Tổ yến;  Sầu riêng, Chanh leo, khoai Lang; Bơ, Thạch đen; Bưởi, Dừa, Na và tháo gỡ khó khăn cho 02 doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam. iii) thiết lập cơ chế trao đổi thông tin, phối hợp xử lý vướng mắc về hoạt động xuất nhập khẩu nông thủy sản giữa Bộ NN và PTNT, Tổng cục Hải quan Trung Quốc và Lãnh đạo các tỉnh biên giới cả hai phía Việt Nam - Trung Quốc đối với việc áp dụng bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc, chứng thư xuất khẩu, vấn đề kiểm dịch động thực vật.

Đối với thị trường Mỹ sẽ tiếp tục đẩy mạnh đề nghị Hoa Kỳ sớm công nhận tương đương đối với xuất khẩu cá tra của Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuât khẩu cá Tra sang Hoa Kỳ; tập trung tháo gỡ rào cản kỹ thuật, giải quyết vướng mắc sản phẩm thủy sản ở các thị trường Hoa Kỳ (Chương trình Giám sát nhập khẩu thủy sản SIMP áp dụng nhiều quy định kiểm soát mặt hàng thủy sản trong đó có tôm, các ngừ, cá kiếm, bào ngư, hải sâm; chương trình Farm Bill). Còn thị trường EU sẽ tập trung làm việc với các cơ quan chức năng của EU tháo gỡ thẻ vàng đối với thủy sản xuất khẩu, đồng thời hài hòa hóa các quy định về kiểm soát thủy sản theo thông lệ quốc tế; đẩy mạnh quảng bá, xuất khẩu nông sản sau khi Hiệp định Thương mại Tự do FTA Việt Nam-EU được ký kết; xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ trực tiếp vào thị trường 28 nước EU thông qua thực thi Hiệp định Đối tác Tự nguyện về Thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và EU. Thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc tập trung đàm phán, mở cửa thị trường cho các sản phẩm hoa quả vào thị trường Nhật Bản bao gồm: nhãn, vải, bưởi, chôm chôm, vú sữa. Tổ chức xúc tiến hàng nông sản vào các chuỗi siêu thị phân phối lớn (như AEON) tại Nhật Bản; tháo gỡ vướng mắc trong kiểm dịch chất lượng sản phẩm thủy sản vào Hàn Quốc; hài hòa các quy định về quản lý gỗ bền vững để đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vào thị trường Hàn Quốc. Đề nghị phía Hàn Quốc mở cửa thị trường cho sản phẩm thịt gà chế biến và trứng gia cầm muối.

3. Nỗ lực phấn đấu đạt mục tiêu phát triển

Với kết quả sản xuất ngành nông nghiệp 9 tháng qua cho thấy, để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, toàn ngành cần tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng phát triển của ngành:

- Trồng trọt: Tiếp tục theo dõi, chỉ đạo công tác chăm sóc, thu hoạch lúa Hè thu, Thu đông, Mùa tại các tỉnh phía Nam; chỉ đạo thu hoạch lúa Mùa, gieo cấy cây vụ Đông 2019 tại các tỉnh phía Bắc.

- Chăn nuôi: Triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh tả lợn Châu Phi, tai xanh, lở mồm long móng; tăng cường chỉ đạo công tác khắc phục thiệt hại trên đàn lợn. Hướng dẫn các địa phương áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học để tái đàn, mở rộng quy mô đàn lợn ở các vùng, các cơ sở chưa có dịch và có đủ điều kiện chăn nuôi an toàn sinh học; chỉ đạo đẩy nhanh quy mô sản xuất và tăng trưởng chăn nuôi gia cầm và gia súc ăn cỏ. Tiếp tục theo dõi, bám sát cung, cầu sản phẩm chăn nuôi, chỉ đạo sát phương án sản xuất kinh doanh bảo đảm đủ nguồn cung cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu, nhất là trong dịp Tết,..; hướng dẫn doanh nghiệp tổ chức xây dựng và thực hiện các đề án về chuỗi sản xuất thịt lợn, thịt gà an toàn dịch bệnh và triển khai giải pháp nhằm hạn chế tăng giá thức ăn chăn nuôi, giá nguyên liệu vật tư đầu vào cho sản xuất.

- Thuỷ sản: Triển khai đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả các khuyến nghị mà Liên minh Châu Âu đưa ra đối với Việt Nam để lấy lại “thẻ xanh” và hướng tới phát triển thủy sản biển bền vững; Tổ chức các đoàn công tác kiểm tra tình hình triển khai các giải pháp chống IUU tại các địa phương; tập huấn triển khai các khuyến nghị của Uỷ ban Châu Âu về IUU. Nâng cao chất lượng khai thác; tổ chức lại sản xuất trên biển theo mô hình hợp tác, liên kết chuỗi; đẩy mạnh hợp tác quốc tế để khai thác hải sản, đảm bảo gắn liền với bảo vệ và phát triển nguồn lợi và góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo;

- Lâm nghiệp: Triển khai kế hoạch thực hiện Hiệp định VPA/FLEGT; kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, trồng rừng thay thế và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lý chặt chẽ chất lượng cây giống;

- Thủy lợi, phòng chống thiên tai: Thường xuyên theo dõi tình hình thời tiết, khí tượng thủy văn dòng chảy và nguồn nước hồ chứa; đôn đốc và hướng dẫn các địa phương thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn, xâm nhập mặn...; tăng cường kiểm tra và đảm bảo an toàn đê sông, đê biển, các công trình thuỷ lợi;

- Nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, tiếp tục xử lý các vấn đề thị trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu thủy sản; thực hiện kế hoạch lấy mẫu giám sát thực phẩm nông lâm thủy sản, đề xuất biện pháp xử lý, tổ chức thanh tra đột xuất.

- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, đôn đốc các chủ dự án, chủ đầu tư đẩy nhanh thực hiện, giải ngân đảm bảo kế hoạch. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ đảm bảo chất lượng công trình xây dựng; đảm bảo an toàn công trình trước và trong mùa mưa lũ./.

 


[1]đã có trên 50 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn phòng, chống bệnh DTLCP;trong đó có các văn bản rất quan trọng: Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 20/5/2019, Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 18/6/2019, Chỉ thị số 04/CT-TTg, Quyết định số 793/QĐ-TTg ngày 27/6/2019; Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống bệnh DTLCP,Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành trên 40 văn bản để chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể về phòng, chống bệnh DTLCP.

[2]Xoài trở thành loại quả tươi thứ 6 của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ sau vải, nhãn, chôm chôm, vú sữa và thanh long.

omard.gov.vn
Xem tin theo ngày: