Quá trình hình thành và phát triển ngành Thủy sản
Ngày: 30/12/2011

BỘ CANH NÔNG (1945)

Ngày 14 tháng 11 năm 1945, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết nghị về việc lập Bộ Canh nông.
Ngày 01 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 69 về việc sát nhập vào Bộ Canh nông tất cả các cơ quan canh nông, thú y, mục súc, ngư nghiệp, lâm chính và nông nghiệp tín dụng.
Ngày 01 tháng 12 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Canh nông đã ban hành Nghị định số 01 về tổ chức Bộ Canh nông, bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi (thú y), lâm nghiệp, nuôi cá, khẩn hoang, tín dụng nông thôn.
 
BỘ NÔNG LÂM (1955)
Tại phiên họp các ngày 1,2 và 4 tháng 02 năm 1955 của Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết đổi tên Bộ Canh nông thành Bộ Nông lâm.
Trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ ngày 17 tháng 02 năm 1955, Bộ Nông lâm đã ban hành Nghị định số 02-NL/QT/NĐ về tổ chức các cơ quan Trung ương thuộc Bộ Nông lâm. Cơ cấu tổ chức của Bộ Nông lâm gồm các bộ phận trực thuộc: Văn phòng; Vụ nông nghiệp (đổi tên từ Vụ sản xuất nông nghiệp); Vụ Lâm nghiệp [1] (đổi tên từ Vụ Thuỷ lâm); Vụ Ngư nghiệp; Sở Quốc doanh Nông nghiệp; Viện Khảo cứu nông lâm; Phòng Tổ chức cán bộ; Trường Nông Lâm Trung ương.
 
TỔNG CỤC THUỶ SẢN (1960)
Cuối tháng 4 năm 1960, Hội đồng Bộ Trưởng đã họp, thảo luận và ra Nghị quyết trình Quốc hội, đề nghị Quyết định tách Bộ Nông lâm thành 4 tổ chức: Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Tổng Cục Thuỷ sản và Tổng Cục Lâm nghiệp[2]. Trong phiên họp ngày 28 tháng 4 năm 1960, Ban Thường trực Quốc hội họp và Quốc hội tán thành Nghị quyết trên về tổ chức lại Bộ Nông lâm.
Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thuỷ sản
Ngày 05/10/1961 Chính phủ ban hành Nghị định số 150/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thuỷ sản.
Sự ra đời của Tổng cục Thuỷ sản là một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của ngành Thuỷ sản, nhất là trong những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ 20. Nghề cá bắt đầu có bước phát triển cả về đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và hợp tác quốc tế trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960 – 1965).
 
UỶ BAN NÔNG NGHIỆP TRUNG ƯƠNG (1971)
Năm 1969, thực hiện chủ trương phân cấp quản lý các Nông-Lâm trường cho địa phương quản lý, Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường và Tổng cục Lâm nghiệp chỉ được giao quản lý trực tiếp một số Nông Lâm trường, Trạm trại chủ yếu làm giống và thí nghiệm; đồng thời Chính phủ mong muốn có một tổ chức đủ mạnh để điều hành sản xuất nông nghiệp đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Năm 1971, theo đề nghị của Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết số 1066-NQ/TVQH ngày 01 tháng 4 năm 1971 quyết định phê chuẩn việc thành lập Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương [3] trên cơ sở hợp nhất Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Ban Quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp và công tác chỉ đạo nuôi cá thuộc Tổng cục Thuỷ sản.
Ngày 18/12/1971, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 234/CP quy định chức năng và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương trong đó có Cục nuôi cá nước ngọt. “Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương là cơ quan của Hội đồng Chính phủ, chịu trách nhiệm về toàn bộ phong trào sản xuất nông nghiệp theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đưa nông nghiệp phát triển theo hướng toàn diện thâm canh, chuyên canh, sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tạo nên nhiều nông sản hàng hoá để đảm bảo nhu cầu của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và đời sống của nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, nông sản để xuất khẩu. Để làm những việc trên đây phải ra sức quản lý một cách có hiệu quả và tiết kiệm mọi năng lực sản xuất (đất đai, nhân lực, vật tư….), phải ra sức cải tiến quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, bảo đảm quyền làm chủ của xã viên, tăng cường các cơ sở quốc doanh, đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật trong nông nghiệp”.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương theo Nghị định số 234 –CP ngày 18/12/1971
Tổ chức Bộ máy của Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương gồm: Văn phòng Uỷ ban; Vụ Kinh tế Kế hoạch; Vụ Kế toán- tài vụ; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Tuyên giáo, Vụ Quản lý ruộng đất; Vụ Lao động nông nghiệp và lao động tiền lương; Vụ Khoa học kỹ thuật; Ban Thanh tra; Ban phân vùng và quy hoạch nông nghiệp; Ban quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; Ban quản lý nông trường quốc doanh; Ban kinh tế nông nghiệp miền núi và vùng kinh tế mới; Cục cây lương thực và cây thực phẩm; Cục cây công nghiệp, cây ăn quả và cây làm thuốc; Cục chăn nuôi gia súc lớn; Cục chăn nuôi gia súc nhỏ; Cục nuôi cá nước ngọt; Cục dâu tằm; Cục chế biến nông sản; Cục thuỷ nông; Cục công cụ và cơ giới nông nghiệp; Cục xây dựng; Tổng công ty vật tư nông nghiệp; Viện khoa học nông nghiệp; Viện cây lương thực và cây thực phẩm; Viện cây công nghiệp, cây ăn quả, cây làm thuốc; Viện thổ nhưỡng nông hoá; Viện chăn nuôi; Viện thú y; Viện bảo vệ thực vật; Viện công cụ và cơ giới hoá nông nghiệp; Các trường đại học nông nghiệp I, II, III; các Trường nghiệp vụ, trung cấp thực hành, trường đào tạo công nhân kỹ thuật; Học viện kinh tế nông nghiệp. Sau này có thêm Cục Thuỷ nông [4].
 
BỘ HẢI SẢN (1976)
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, ngành Thuỷ sản bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển mới ở cả 2 miền Bắc và Nam Việt Nam.
Trước đòi hỏi khách quan và bức thiết phát triển nghề cá biển, Quốc hội Việt Nam thống nhất trong kỳ họp đầu tiên năm 1976 đã thành lập Bộ Hải sản.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Hải sản
Năm 1978, Chính phủ đã Quyết định chuyển Cục Nuôi cá nước ngọt từ Bộ Nông nghiệp về Bộ Hải sản nhằm tăng cường sự quản lý thống nhất nghề cá.
Phong trào xây dựng "Ao cá Bác Hồ" được liên Bộ: Hải sản - Nông nghiệp - Viện bảo tàng Hồ Chí Minh phát động từ tháng 11 năm 1978 nhằm động viên mọi thành phần kinh tế, mọi lực lượng, mọi người nuôi cá theo gương Bác Hồ.
Sau ngày thống nhất đất nước, ngành Thuỷ sản ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống: cung cấp nguồn đạm từ thuỷ sản cho nhu cầu dinh dưỡng của nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cho một số ngành công nghiệp khác, thức ăn cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản và sản phẩm cho xuất khẩu, tăng thêm việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo tiến tới làm giàu ở nông thôn, miền biển, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng trên biển.
Giai đoạn 1976 – 1980 là thời kỳ nghề cá bị sa sút, tổng sản lượng thuỷ sản ngày một giảm, đời sống của ngư dân sút kém. Thực tế đó đòi hỏi phải nghiên cứu từng bước tháo gỡ khó khăn đang kìm hãm sản xuất để phát triển ngành thuỷ sản phù hợp với quy luật khách quan, với tiềm năng nguồn lợi và lao động đáp ứng đòi hòi của xã hội đối với ngành trong những thập kỷ tiếp theo.
 
BỘ THUỶ SẢN (1981)
Quốc hội khoá VII (tháng 7/ 1981) đã quyết định thành lập Bộ Thuỷ sản.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Thuỷ sản:
Thời kỳ này, một thành công lớn của ngành Thuỷ sản là đã xác định được nghề cá Việt Nam là nghề cá nhân dân, đòi hòi phải có chính sách và cơ chế quản lý phù hợp, huy động được nhiều vốn và lao động đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ hậu cần cho sản xuất và ngư dân, tổ chức khai thác đồng thời chú ý đến việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
Ngành thuỷ sản lúc này thực sự đã có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển của đất nước, được coi là mũi nhọn đột phá trong việc hướng dẫn sản xuất kinh doanh sang sản xuất hàng hoá, lấy xuất khầu làm mũi nhọn, được phép thử nghiệm cơ chế “tự cân đối hoá, tự trang trải” trong sản xuất kinh doanh và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, coi trọng các thành phần kinh tế, đồng thời xác định vai trò dịch vụ của các quốc doanh. Từ cơ chế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp sớm bước vào cơ chế thị trường trước các ngành kinh tế khác. Giai đoạn 1981 – 1985, lần đầu tiên ngành thuỷ sản đã nối liên các khâu trong nghề cá để có thể giải quyết tương đối thoả đáng những vấn đề chung và “đặc thù” của ngành, và là ngành đầu tiên được giao quản lý trọn vẹn từ khâu nuôi trồng, khai thác (1978) đến chế biến (1980) đến xuất nhập khẩu và nội tiêu (1981 và 1985).
Trong lĩnh vực đầu tư của ngành đã có những bước chuyển đổi: đầu tư trong cả ba lĩnh vực: chế biến, nuôi trồng và khai thác, ngoài phần đầu tư của nhà nước, hàng năm các thành phần khác tham gia đầu tư vào nghề cá với tỷ trọng ngày càng lớn, chủ trương gắn vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến được xác lập.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khoá VII ra Nghị quyết sớm xác định Thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển của đất nước, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 3 xác định xây dựng Việt Nam thành một quốc gia mạnh về biển, trong đó ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế chủ chốt.
Các định hướng về nuôi trồng thuỷ sản, chương trình chế biến thuỷ sản và chương trình khai thác hải sản xa bờ được xây dựng với nhiều chủ trương và biện pháp về kinh tế, kỹ thuật, hợp tác quốc tế, chính sách lao động đã mang lại cho hoạt động của toàn ngành đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá với những thời cơ và thách thức mới.
 
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (8/2007)
Để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, thu gọn các Bộ quản lý ngành hiện có theo chiều hướng chuyển từ Bộ quản lý đơn ngành sang mô hình Bộ quản lý nhà nước nhiều ngành, nhiều lĩnh vực có chức năng gần giống nhau, giảm bớt sự chồng chéo, chia cắt giữa các Bộ; tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XII (tháng 8/ 2007) đã quyết định hợp nhất Bộ Thuỷ sản vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
 

 


[1] Ngày 17/02/1955, Bộ Nông lâm ban hành Nghị định số 03-NL/TQ/NĐ tổ chức một Quốc doanh Lam khẩn ở Trung ương đặt trong Vụ Lâm nghiệp. Vụ có hai bộ phận Lâm nghiệp và một Quốc doanh Lâm khẩn.
 
[2] Chính phủ Việt Nam 1945-2000, Nhà Xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, trang 87.
[3]  Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương lúc bấy giờ là một tổ chức quản lý Nhà nước ngang Bộ. Đến năm 1977 Uỷ ban đổi tên thành Bộ Nông nghiệp.
 
[4] Quyết định số 120-CP ngày 16/6/1972 của Hội đồng Chính phủ.
Xem tin theo ngày: