Quá trình hình thành và phát triển ngành Lâm nghiệp
Ngày: 30/12/2011

 BỘ CANH NÔNG (1945)

Ngày 14 tháng 11 năm 1945, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết nghị về việc lập Bộ Canh nông, là cơ quan của Chính phủ được giao quản lý ngành Lâm chính ở nước ta trong suốt thời kỳ kháng chiến - kiến quốc.

Ngày 01 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 69 đưa cơ quan Lâm chính trong toàn cõi Việt Nam đặt trực thuộc Bộ Canh nông (cùng với tất cả "Các cơ quan: Canh nông, Thú y, Mục súc, Ngư nghiệp, Lâm chính và nông nghiệp tín dụng (hợp tác xã và nông khố ngân hàng) trong toàn cõi Việt Nam từ nay thuộc Bộ Canh nông, các cơ quan trên này sẽ tổ chức theo Nghị định của Bộ Canh nông.

Ngay trong ngày 01 tháng 12 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Canh nông đã ban hành Nghị định số 01 về tổ chức Bộ Canh nông, bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi (thú y), lâm nghiệp, nuôi cá, khẩn hoang, tín dụng nông thôn. Bộ máy quản lý của Bộ Canh nông gồm những cơ quan; Văn phòng; các phòng sự vụ[1], Các Nha.

Nha chuyên môn này có nhiệm vụ quản lý Nhà nước toàn diện một ngành các việc hành chính và chuyên môn về nông tang; thú y, mục súc và ngư nghiệp, rừng rú và săn bắn; nông khố ngân hàng và hợp tác xã. Các Nha thuộc Bộ Canh nông gồm:

1. Nha Nông chính [2]

2. Nha Mục súc, Ngư nghiệp.

3. Nha Lâm chính [3]

4. Nha nông nghiệp tín dụng

Trong kháng chiến chống Pháp, hệ thống các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Canh nông đã có như Trường Trung học Canh nông, Thú ngư, Thuỷ lâm. Năm 1952, tách các cơ quan nghiên cứu thành Viện Khảo cứu trồng trọt, Viện Khảo cứu chăn nuôi (sau khi hoà bình lập lại, nhập lại thành Viện Khảo cứu Nông Lâm) [4]. Các ngành nói trên, trước thuộc các Nha, sau đổi thành các Vụ quản lý trực thuộc Bộ. Riêng về Thú y, để thay cho Viện Pasteur Nha Trang nên đã thành lập Viện Kháng nhiễm trụ sở tại Thanh Hoá, đến năm 1952 thì giải thể.

Ngày 14 tháng 5 năm 1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 69, đổi tên Nha Lâm chính thành Nha Thuỷ lâm. Ngày 09 tháng 02 năm 1952, Bộ Canh nông đã ban hành Nghị định số 01-CN/QT/NĐ về tổ chức Canh nông và Nghị định số 02-CN/QT/NĐ về tổ chức các Khu và Ty Canh nông. Theo 02 Nghị định này, ở Trung ương, Nha Thuỷ lâm được tổ chức lại thành Vụ Thuỷ lâm [5] - là một trong 7 bộ phận tham mưu, tư vấn nghiệp vụ của Bộ Canh nông.

 

BỘ NÔNG LÂM (1955)

Nước ta tạm thời chia làm hai miền Nam Bắc với hai nhiệm vụ chiến lược là khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam. Vào những ngày đầu năm 1955 cũng như thời kỳ 1955-1957, Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Canh nông đã có nhiều quyết định quan trọng về tổ chức lại ngành canh nông để đáp ứng nhiệm vụ quản lý và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp trên toàn miền Bắc.

Tại phiên họp các ngày 1,2 và 4 tháng 02 năm 1955 của Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết đổi tên Bộ Canh nông thành Bộ Nông lâm. Bộ Nông lâm chịu trách nhiệm quản lý thêm lĩnh vực lâm nghiệp [6].

Trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ ngày 17 tháng 02 năm 1955, Bộ Nông lâm đã ban hành Nghị định số 02-NL/QT/NĐ về tổ chức các cơ quan Trung ương thuộc Bộ Nông lâm. Cơ cấu tổ chức của Bộ Nông lâm gồm các bộ phận trực thuộc: Văn phòng; Vụ nông nghiệp (đổi tên từ Vụ sản xuất nông nghiệp); Vụ Lâm nghiệp [7] (đổi tên từ Vụ Thuỷ lâm); Vụ Ngư nghiệp; Sở Quốc doanh Nông nghiệp; Viện Khảo cứu nông lâm; Phòng Tổ chức cán bộ; Trường Nông Lâm Trung ương.

Đầu năm 1956, Chính phủ đã Quyết định thành lập Sở Quốc doanh lâm khẩn đặt trực thuộc Bộ Nông lâm. Ngày 20 tháng 10 năm 1958, Bộ Nông lâm đã ban hành Nghị định số 535/NĐ thành lập Cục Lâm nghiệp trực thuộc Bộ Nông lâm trên cơ sở hợp nhất Sở Quốc doanh lâm khẩn và Vụ Lâm nghiệp.

Hệ thống đơn vị sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu thuộc Bộ Nông lâm thời kỳ này và về sau có nhiều thay đổi:

1. Ngày 23 tháng 02 năm 1955, Bộ trưởng Bộ Nông lâm ban hành Nghị định số 04/NL/NĐ/QT "Bãi bỏ các Viện trồng trọt, Viện Chăn nuôi và Phòng kỹ thuật ở Vụ Thuỷ lâm" và thành lập Viện Khảo cứu nông lâm.

2. Năm 1956, thành lập Trường Đại học Nông nghiệp [8]. Năm 1958, Bộ Nông lâm quyết định hợp nhất Viện Khảo cứu Nông lâm và Trường Đại học Nông nghiệp thành Học viện Nông lâm [9] (các Viện Trồng trọt, Chăn nuôi trở thành các Ban trong Học viện). Năm 1968, Viện này lại được tách ra thành nhiều Viện: Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp, Cây lương thực và thực phẩm, Nông hoá thổ nhưỡng, Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi, Thú y, Cơ giới nông nghiệp … Dần dần, do yêu cầu đã thành lập thêm các Viện khác như Viện Kinh tế nông nghiệp, Viện Cây công nghiệp….

3. Các trường Trung cấp nông nghiệp trực thuộc Bộ có trụ sở đóng tại: Chèm (Hà Nội), Tuyên Quang, Sông Bôi, Thanh Hoá, Vinh. Một số trường sơ cấp Nông Lâm đặt ở Nghệ An, Tây Bắc, Việt Bắc.

 

TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP (1960)

Vào năm 1960, hệ thống các Nông-Lâm trường được hình thành, phát triển và được chuyển sang Bộ Nông lâm quản lý. Cuối tháng 4 năm 1960, Hội đồng Bộ Trưởng đã họp, thảo luận và ra Nghị quyết trình Quốc hội, đề nghị Quyết định tách Bộ Nông lâm thành 4 tổ chức: Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Tổng Cục Thuỷ sản và Tổng Cục Lâm nghiệp [10]. Trong phiên họp ngày 28 tháng 4 năm 1960, Ban Thường trực Quốc hội họp và Quốc hội tán thành Nghị quyết trên về tổ chức lại Bộ Nông lâm.

Từ đây, Tổng Cục Lâm nghiệp được thành lập, là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm quản lý công tác lâm nghiệp theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch quản lý rừng và đất rừng, phát triển sản xuất lâm nghiệp, xây dựng khoa học kỹ thuật lâm nghiệp, nhằm xây dựng lâm nghiệp xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi mặt lợi ích và tác dụng của rừng để phục vụ sản xuất, dân sinh, quốc phòng

Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng Cục lâm nghiệp được quy định cụ thể tại Nghị định số 140/CP ngày 29/9/1961 của Hội đồng Chính phủ. Nghị định 140/CP xác định: “Tổng Cục Lâm nghiệp được thành lập, là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm quản lý công tác lâm nghiệp theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch quản lý rừng và đất rừng, phát triển sản xuất lâm nghiệp, xây dựng khoa học kỹ thuật lâm nghiệp, nhằm xây dựng lâm nghiệp xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi mặt lợi ích và tác dụng của rừng để phục vụ sản xuất, dân sinh, quốc phòng".

Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Lâm nghiệp theo Nghị định số 140/CP ngày 29/9/1961

Tổ chức bộ máy của Tổng cục Lâm nghiệp gồm: Văn phòng; Ban Thanh tra; Vụ Tổ chức cán bộ và lao động tiền lương; Vụ Kế hoạch, Vụ Tài vụ; Cục Trồng rừng; Cục Điều tra quy hoạch rừng; Cục Khai thác lâm sản; Cục Vận chuyển phân phối; Cục Chế biến lâm sản; Viện Nghiên cứu lâm nghiệp [11] ; các đơn vị sự nghiệp, xí nghiệp [12] do Tổng cục quản lý. Sau này, các Cục: Khai thác lâm sản, Vận chuyển phân phối được sáp nhập thành Cục Khai thác, Vận chuyển và phân phối lâm sản [13].

Thời kỳ 1963-1964, Chính phủ đã quyết định thành lập thêm 3 Cục quản lý chuyên ngành mới trực thuộc Tổng Cục Lâm nghiệp (Cục Cơ khí vật tư, Cục Kiến thiết cơ bản, Cục Bảo vệ lâm nghiệp [14]) và Viện Thiết kế công trình lâm nghiệp. Những năm tiếp theo, Chính phủ đã thành lập thêm các Vụ: Lao động tiền lương, Khoa học kỹ thuật. Cũng vào thời điểm này, Tổng cục Lâm nghiệp đã thành lập một số trường đào tạo trực thuộc: Trường Trung cấp lâm nghiệp Trung ương và Trường trung cấp Công nghiệp rừng Hương Sơn (10/1962); Trường Trung cấp kinh tế lâm nghiệp (Phú Thọ, năm 1963); Trường Công nhân kỹ thuật chế biến gỗ Đông Anh (Hà Nội, năm 1968); Trường Công nhân kỹ thuật lâm nghiệp Hữu Lũng (Lạng Sơn, năm 1970); Trường trung học cơ khí Lâm nghiệp (Vĩnh Phú).

 

Ngành Lâm nghiệp thời kỳ 1971 - 1975: Thành lập Vụ sản xuất trên cơ sở hợp nhất các Cục: Cơ khí vật tư, Khai thác lâm sản, Chế biến lâm sản, Trồng rừng; chuyển Cục Bảo vệ lâm nghiệp thành Cục Kiểm lâm nhân dân; chuyển Cục Điều tra quy hoạch rừng thành Viện Điều tra quy hoạch rừng. Tổng cục Lâm nghiệp đã chủ động tổ chức lại Vụ Công nghiệp rừng và Vụ Lâm sinh; đồng thời tách Viện điều tra quy hoạch rừng thành hai Viện: Viện Điều tra quy hoạch rừng và Viện Thiết kế công trình lâm nghiệp. Năm 1974, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Viện Công nghiệp rừng trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngành Lâm nghiệp thời kỳ này ở nước ta tồn tại 3 cơ quan quản lý lâm nghiệp với quan hệ trực thuộc khác nhau:

1. Tổng Cục Lâm nghiệp ở Hà Nội, là cơ quan trực thuộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

2. Ban Lâm nghiệp Trung Trung Bộ ở Thành phố Đà Nẵng, trực thuộc Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Trung Trung Bộ.

3. Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam ở Sài Gòn trực thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.

Từ ngày 24/6- 03/7/1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất (Quốc hội khoá VI) họp tại Hà Nội.

 

BỘ LÂM NGHIỆP (1976)

Cũng trong kỳ họp này, theo Nghị quyết của Quốc hội, trong cơ cấu của Hội đồng Chính phủ có Bộ Lâm nghiệp.

Sau khi thành lập Bộ Lâm nghiệp, toàn bộ cơ cấu tổ chức thuộc Tổng Cục Lâm nghiệp ở miền Bắc, ban Lâm nghiệp Trung Trung Bộ, Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam đều đặt dưới sự quản lý thống nhất của Bộ Lâm nghiệp.

Ngày 18/7/1977 Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 207-CP “Chuyển công tác vận động định canh, định cư từ Bộ Nông nghiệp sang Bộ Lâm nghiệp”.

Bộ Lâm nghiệp có nhiệm vụ giúp Hội đồng Chính phủ:

1. Thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện cuộc vận động định canh, định cư theo đúng chủ trương, chính sách đã được quy định trong Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ số 38-CP ngày 12/3/1968.

2. Nghiên cứu và đề nghị với Hội đồng Chính phủ bổ sung những chủ trương, chính sách để phục vụ cho cuộc vận động định canh, định cư và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách ấy..

3. Phối hợp, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các ngành, các cấp có liên quan trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch Nhà nước về công tác vận động định canh, định cư; làm nhiệm vụ của Bộ chủ quản về công tác định canh, định cư.

Hệ thống các đơn vị sự nghiệp đào tạo [15] và nghiên cứu lâm nghiệp trực thuộc Bộ Lâm nghiệp thời gian này và những năm tiếp theo có những biến đổi:

1. Thành lập Trường công nhân kỹ thuật lâm nghiệp II (Bình Định, năm 1977); Trường công nhân kỹ thuật lâm nghiệp III (Sông Bé, năm 197). Bộ Lâm nghiệp cũng nhanh chóng thành lập thêm các Trường Trung học lâm nghiệp Trung ương: số III (Bình Định), số IV (Đồng Nai).

2. Năm 1982, Bộ Lâm nghiệp thành lập Viện Kinh tế Lâm nghiệp.

Tổng quan từ năm 1976 đến trước năm 1994, Bộ Lâm nghiệp đã quản lý toàn ngành theo quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được Chính phủ quy định cho Tổng cục Lâm nghiệp.

Ngày 01/02/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 08-CP về nhiệm vụ, quyền hạn và bộ máy của Bộ Lâm nghiệp.

Vị trí, chức năng của Bộ Lâm nghiệpđược xác định: "Bộ Lâm nghiệp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về quản lý, bảo vệ, xây dựng, phát triển rừng, sử dụng rừng, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc quản lý Nhà nước và phát triển rừng theo quy định tại Luật bảo vệ và phát triển rừng".

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Lâm nghiệp theo Nghị định số 08-CP Ngày 01/02/1994

Tổ chức bộ máy của Bộ Lâm nghiệp gồm:

Các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước: Vụ Lâm sinh; Vụ Công nghiệp rừng; Cục Kiểm lâm; Vụ Khoa học và Công nghệ; Vụ Hợp tác quốc tế; Thanh tra Bộ, Vụ Kế hoạch-thống kê; Vụ Tài chính-Kế toán; Vụ Tổ chức-Lao động; Văn phòng Bộ; Thanh tra Bộ.

Các tổ chức sự nghiệp: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam [16]; Viện Điều tra quy hoạch rừng; các Vườn Quốc gia [17]; Trường Đại học Lâm nghiệp [18]; Trường Cán bộ quản lý Lâm nghiệp [19]; các Trường Trung học và Công nhân hiện có [20] do Bộ Lâm nghiệp cùng Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ và các Bộ có liên quan nghiên cứu sắp xếp trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; Tạp chí Lâm nghiệp; 3 Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số I, II, III.

 

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (1995)

Kế thừa và phát huy thành tựu 10 năm đổi mới tổ chức các cơ quan hành chính Nhà nước, Chính phủ đã có định hướng thu gọn các Bộ quản lý ngành hiện có theo chiều hướng chuyển từ Bộ quản lý đơn ngành sang mô hình Bộ quản lý nhà nước nhiều ngành, nhiều lĩnh vực có chức năng gần giống nhau, giảm bớt sự chồng chéo, chia cắt giữa các Bộ; để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ lợi và phát triển nông thôn.

 Từ ngày 03/10 - 28/10/1995, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá IX thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Bộ Thuỷ lợi.

Nhiệm vụ chính trị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được đặt ra không chỉ là nhiệm vụ của các ngành trước đây về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ lợi một cách riêng rẽ mà còn là sự đòi hỏi cao hơn về việc phát triển ngành nông nghiệp và nông thôn một cách bền vững, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đất - nước rừng, gắn chặt hơn nữa sự phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ lợi với việc phát triển nông thôn với đối tượng phục vụ chủ yếu hơn 60 triệu dân sống ở nông thôn, chiếm gần 78 phần trăm dân số cả nước.

Ngày 01/11/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Nghị định 73/CP quy định vị trí, chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn".

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Nghị định 73/CP Ngày 01/11/1995

Cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gồm:

1. Các cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước: Vụ Kế hoạch và quy hoạch; Vụ Đầu tư xây dựng cơ bản; Vụ Khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm; Vụ Chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Tài chính-Kế toán; Vụ Tổ chức-Cán bộ.

2. Các Cục quản lý Nhà nước chuyên ngành: Cục Phát triển Lâm nghiệp; Cục Kiểm lâm; Cục bảo vệ thực vật; Cục Thú y ; Cục Khuyến nông và khuyến lâm; Cục Quản lý nước và Công trình thủy lợi, Cục đê điều và phòng chống lụt bão (kiêm Văn phòng ban chỉ đạo chống lụt bão Trung ương; Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn; Cục định canh định cư và Vùng kinh tế mới.

3. Thanh Tra.

4. Văn phòng.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Nghị định 86/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003

1. Các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước: Vụ Kế hoạch; Vụ Tài chính; Vụ Khoa học công nghệ; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Pháp chế; Vụ Tổ chức cán bộ;

2. Các Cục quản lý Nhà nước chuyên ngành: Cục Nông nghiệp; Cục Bảo vệ thực vật; Cục Thú y; Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối; Cục Lâm nghiệp; Cục Kiểm lâm; Cục Thuỷ lợi; Cục Quản lý đê điều và phòng, chống lụt, bão; Cục Quản lý xây dựng công trình; Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn;

3. Thanh Tra

4. Văn phòng

 

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (8/ 2007)

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XII (tháng 8/2007) đã quyết định hợp nhất Bộ Thuỷ sản vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ngày 03/01/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nghị định quy định "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật".

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Nghị định 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008

1. Các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước: Vụ Kế hoạch; Vụ Tài chính; Vụ Khoa học công nghệ; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Pháp chế; Vụ Tổ chức cán bộ;

2. Các Cục quản lý Nhà nước chuyên ngành: Cục Trồng trọt; Cục Bảo vệ thực vật; Cục Chăn nuôi; Cục Thú y; Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối; Cục Lâm nghiệp; Cục Kiểm lâm; Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; Cục Nuôi trồng thuỷ sản; Cục Thuỷ lợi; Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống lụt, bão; Cục Quản lý xây dựng công trình; Cục Kinh tế Hợp tác xã và Phát triển nông thôn; Cục Quản lý chất lượng nông lâm thuỷ sản;

3. Thanh Tra;

4. Văn phòng;

 

 

 

 

 

 


[1]Gồm: phòng Nhất: Công văn; Phòng Nhì: Viên chức; Phòng ba: Ngân sách-Kế toán-Vật liệu; Phòng Tư: Liên lạc với các nha chuyên môn trong Bộ-Lập chương trình hành động…; Phòng Năm: Thống kê-Thư viện-Sưu tầm tài liệu canh nông tập san; Phòng Sáu: Chính sách canh nông.

 

[2]Nha Nông chính có các cơ quan canh nông: Viện Khảo cứu Canh nông; Sở Khuyến nông; Sở Khẩn hoang và Di dân; Sở Xã dân công tác; Túc mễ cục; Ty Nông học.

 

[3]Nhiệm vụ của Nha Lâm chính theo Nghị định số 01 nêu trên là: "làm các việc về hành chính và chuyên môn về rừng rú và săn bắn". Tiếp theo, ngày 11 tháng 3 năm 1946, Bộ Canh nông ban hành Nghị định về tổ chức Nha Lâm chính, trong đó quy định Nha Lâm chính được chia thành 3 Ban: Ban Hành chính, Ban Tài chính và Ban Chuyên môn. Ngày 28 tháng 10 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Canh nông đã ban hành Nghị định số 508/BCN về tổ chức lại Nha Lâm chính. Theo đó, hệ thống tổ chức Nha Lâm chính được tổ chức theo địa giới hành chính và có 4 cấp quản lý rừng trực thuộc Bộ là: Nha Tổng giám đốc, Quận Lâm chính, Hạt Lâm Chính. Sau này Nha Lâm chính đổi tên thành Nha Thuỷ lâm theo Sắc lệnh số 69 ngày 14 tháng năm 1950 của Chính phủ.

 

[4]Sau hoà bình lập lại ít lâu, nhập lại thành Viện Khảo cứu Nông Lâm.

 

[5] Vụ Thuỷ lâm là cơ quan tham mưu giúp Bộ Canh nông quản lý và phát triển lâm nghiệp trên toàn miền Bắc Việt Nam.

 

[6] Ngày 26/3/1955, Bộ trưởng Bộ Nông lâm ban hành Thông tư số 06-NL/TT giải thích những thay đổi về tổ chức Bộ Nông lâm

 

[7] Ngày 17/02/1955, Bộ Nông lâm ban hành Nghị định số 03-NL/TQ/NĐ tổ chức một Quốc doanh Lam khẩn ở Trung ương đặt trong Vụ Lâm nghiệp. Vụ có hai bộ phận Lâm nghiệp và một Quốc doanh Lâm khẩn.

 

[8] Sau thành Trường Đại học Nông nghiệp I (Hà Nội) và thêm Trường Đại học Nông nghiệp II (Hà Bắc), Trường Đại học Nông nghiệp III (Bắc Thái).

 

[9] Sau này tách khoa Lâm nghiệp thành Trường Đại học Lâm nghiệp, tách Khoa Thuỷ sản thành Trường Đại học Thuỷ sản.

[10]Chính phủ Việt Nam 1945-2000, Nhà Xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, trang 87.

 

[11] Viện nghiên cứu lâm nghiệp được thành lập năm 1961. Đến năm 1971, Viện được đổi tên thành Viện Lâm nghiệp.

 

[12] Trước đó, Chủ nhiệm Tổng cục Lâm nghiệp ra Quyết định số 207-LN/QĐ ngày 31/5/1961 thành lập lâm trường Yên Bình, tỉnh Yên Bái; Quyết định số 224-LN/QĐ ngày 10/6/1961 tổ chức bốn Lâm trường quốc doanh Cao Bình, Vinh Quang, Việt Hồng, Cham Chu tỉnh Tuyên Quang. Các Lâm trường này trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp.

[13]Cục này, sau đổi tên thành Cục Khai thác và Chế biến.

[14]Quyết định số 116/CP ngày 25/7/1963 của Hội đồng Chính phủ.

[15]Thời điểm này về số lượng nhiều nhất có 19 trường lâm nghiệp thuộc Trung ương gồm: 2 Trường Đại học và Cao đẳng, 7 Trường Trung học, 7 Trường Công nhân kỹ thuật, 2 Trường Bổ túc văn hoá và 1 Trường Bồi dưỡng quản lý Kinh tế. Năm 1982, sau khi sắp xếp lại, hệ thống Trường trực thuộc Bộ Lâm nghiệp vẫn còn 11 trường, gồm: 1 Trường Đại học, 4 Trường Trung học, 5 Trường Công nhân kỹ thuật, 1 Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý.

[16]Ngày 30/8/1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 137/HĐBT hợp nhất Viện Lâm nghiệp, Viện Công nghiệp rừng, Viện Kinh tế Lâm nghiệp để thành lập Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.

 

[17] Thời gian này có 9 Vườn quốc gia trực thuộc Bộ là các Vườn quốc gia: Cúc Phương, Ba Vì, Cát Bà, Ba Bể, Bến En. Bạch Mã, Yok Đôn, Cát Tiên. Cuối năm 2002 Vườn quốc gia Ba Bể chuyển giao về tỉnh Bắc Kạn quản lý.

 

[18] Được thành lập theo Quyết định số 127-CP ngày 19/8/1964 của Chính phủ trên cơ sở Khoa lâm học và bộ môn cơ khí của Trường Đại học Nông nghiệp.

[19]Tiền thân của Trường này là Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế lâm nghiệp (năm 1973 trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp).

[20]Thời điểm này trực thuộc Bộ Lâm nghiệp có 6 Trường Công nhân kỹ thuật (dạy nghề lâm nghiệp): Trường Công nhân kỹ thuật chế biến gỗ (Hà Nam Ninh); Trường Công nhân kỹ thuật Lâm nghiệp Trung ương I (Lạng Sơn); Trường Công nhân kỹ thuật Lâm nghiệp Trung ương II (Bình Định); Trường Công nhân kỹ thuật Lâm nghiệp Trung ương III (Bình Dương); Trường Công nhân kỹ thuật Lâm nghiệp Trung ương IV (Phú Thọ); Trường Công nhân cơ khí lâm nghiệp (Hà Nội); 3 Trường Trung học Lâm nghiệp I (Quảng Ninh), II (Đồng Nai) và Tây Nguyên (Gia Lai). Về sau hệ thống các trường này nằm trong cơ cấu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 

Xem tin theo ngày: