Quá trình hình thành và phát triển ngành Nông nghiệp
Ngày: 30/12/2011

BỘ CANH NÔNG (1945)

Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc "Tuyên ngôn độc lập", khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Chỉ hai tháng sau ngày Chủ tịch Hồ chí Minh đọc "Tuyên ngôn độc lập", ngày 14 tháng 11 năm 1945, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết nghị về việc lập Bộ Canh nông. Tiền thân của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày nay. Với 2 nhiệm vụ chính: "ngoài công việc tăng gia sản xuất cấp tốc để giải quyết nạn đói trong phạm vi tình thế hiện thời, sẽ có nhiệm vụ sửa soạn một chương trình kiến thiết về kinh tế nông nghiệp sau này và đặt những căn bản đầu tiên cho cuộc kiến thiết ấy"[1].

Ngày 16 tháng 11 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Canh nông đã ra tuyên bố: "Bộ Canh nông vừa mới lập ra, sẽ có hai nhiệm vụ, hiện tại và tương lai:

1. Thực hiện chương trình tăng gia sản xuất cấp tốc ở Bắc bộ và miền Bắc Trung bộ để giải quyết một phần vào nạn đói đang đe doạ đồng bào.

2. Sửa soạn một nền tảng chấn hưng nông nghiệp để mở đường phát triển cho một nền kinh tế nông nghiệp quốc gia sau này".

Ngày 01 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 69 về việc sát nhập vào Bộ Canh nông tất cả các cơ quan canh nông, thú y, mục súc, ngư nghiệp, lâm chính và nông nghiệp tín dụng. Sắc lệnh này đã quy định: "Tất cả các cơ quan: canh nông, thú y, mục súc, ngư nghiệp, lâm chính và nông nghiệp tín dụng (hợp tác xã và nông khố ngân hàng) trong toàn cõi Việt Nam từ nay thuộc Bộ Canh nông, các cơ quan trên này sẽ tổ chức theo Nghị định của Bộ Canh nông.

Ngay trong ngày 01 tháng 12 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Canh nông đã ban hành Nghị định số 01 về tổ chức Bộ Canh nông, bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi (thú y), lâm nghiệp, nuôi cá, khẩn hoang, tín dụng nông thôn. Bộ máy quản lý của Bộ Canh nông gồm những cơ quan; Văn phòng; các phòng sự vụ[2], Các Nha.

Nha chuyên môn này có nhiệm vụ quản lý Nhà nước toàn diện một ngành các việc hành chính và chuyên môn về nông tang; thú y, mục súc và ngư nghiệp, rừng rú và săn bắn; nông khố ngân hàng và hợp tác xã. Các Nha thuộc Bộ Canh nông gồm:

1. Nha Nông chính [3]

2. Nha Mục súc, Ngư nghiệp.

3. Nha Lâm chính [4]

4. Nha nông nghiệp tín dụng

Trong kháng chiến chống Pháp, hệ thống các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Canh nông đã có như Trường Trung học Canh nông, Thú ngư, Thuỷ lâm. Năm 1952, tách các cơ quan nghiên cứu thành Viện Khảo cứu trồng trọt, Viện Khảo cứu chăn nuôi (sau khi hoà bình lập lại, nhập lại thành Viện Khảo cứu Nông Lâm) [5]. Các ngành nói trên, trước thuộc các Nha, sau đổi thành các Vụ quản lý trực thuộc Bộ. Riêng về Thú y, để thay cho Viện Pasteur Nha Trang nên đã thành lập Viện Kháng nhiễm trụ sở tại Thanh Hoá, đến năm 1952 thì giải thể.

Ngày 14 tháng 5 năm 1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 69, đổi tên Nha Lâm chính thành Nha Thuỷ lâm. Ngày 09 tháng 02 năm 1952, Bộ Canh nông đã ban hành Nghị định số 01-CN/QT/NĐ về tổ chức Canh nông và Nghị định số 02-CN/QT/NĐ về tổ chức các Khu và Ty Canh nông. Theo 02 Nghị định này, ở Trung ương, Nha Thuỷ lâm được tổ chức lại thành Vụ Thuỷ lâm [6] - là một trong 7 bộ phận tham mưu, tư vấn nghiệp vụ của Bộ Canh nông.

 

BỘ NÔNG LÂM (1955)

Tại phiên họp các ngày 1,2 và 4 tháng 02 năm 1955 của Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết đổi tên Bộ Canh nông thành Bộ Nông lâm. Trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ ngày 17 tháng 02 năm 1955, Bộ Nông lâm đã ban hành Nghị định số 02-NL/QT/NĐ về tổ chức các cơ quan Trung ương thuộc Bộ Nông lâm. Cơ cấu tổ chức của Bộ Nông lâm gồm các bộ phận trực thuộc: Văn phòng; Vụ nông nghiệp (đổi tên từ Vụ sản xuất nông nghiệp); Vụ Lâm nghiệp [7] (đổi tên từ Vụ Thuỷ lâm); Vụ Ngư nghiệp; Sở Quốc doanh Nông nghiệp; Viện Khảo cứu nông lâm; Phòng Tổ chức cán bộ; Trường Nông Lâm Trung ương.

 

BỘ NÔNG NGHIỆP (1960)

Vào năm 1960, hệ thống các Nông-Lâm trường được hình thành, phát triển và được chuyển sang Bộ Nông lâm quản lý. Cuối tháng 4 năm 1960, Hội đồng Bộ Trưởng đã họp, thảo luận và ra Nghị quyết trình Quốc hội, đề nghị Quyết định tách Bộ Nông lâm thành 4 tổ chức: Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Tổng Cục Thuỷ sản và Tổng Cục Lâm nghiệp [8]. Trong phiên họp ngày 28 tháng 4 năm 1960, Ban Thường trực Quốc hội họp và Quốc hội tán thành Nghị quyết trên về tổ chức lại Bộ Nông lâm.

Ngày 17-18 tháng 5 năm 1961, Thường vụ Hội đồng Chính phủ ra Nghị quyết "giao cho Bộ Nông nghiệp nhiệm vụ tổ chức, thu mua, quản lý, phân phối giống". Ngày 26 tháng 8 năm 1961, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp ban hành Quyết định số 30-NN/QĐ tách vụ phân, giống, bảo vệ thực vật thành hai Cục: Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, và Cục Giống và phân bón.

Ngày 05 tháng 10 năm 1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 152/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp. “Bộ Nông nghiệp là cơ quan của Chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác nông nghiệp trong khu vực sản xuất thuộc sở hữu tập thể của nông dân lao động theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc, để thoả mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và sản phẩm nông nghiệp cho xuất khẩu, tiến lên xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại và một nền khoa học, kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến”.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp theo Nghị định số 152/CP ngày 05/10/1961

 

UỶ BAN NÔNG NGHIỆP TRUNG ƯƠNG (1971)

Năm 1969, thực hiện chủ trương phân cấp quản lý các Nông-Lâm trường cho địa phương quản lý, Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường và Tổng cục Lâm nghiệp chỉ được giao quản lý trực tiếp một số Nông Lâm trường, Trạm trại chủ yếu làm giống và thí nghiệm; đồng thời Chính phủ mong muốn có một tổ chức đủ mạnh để điều hành sản xuất nông nghiệp đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở Tờ trình của Hội đồng Chính phủ gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập Uỷ ban Nông nghiệp, ngày 01 tháng 4 năm 1971, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã họp ra Nghị quyết số 1066-NQ/TVQH phê chuẩn việc thành lập Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương [9] trên cơ sở sáp nhập Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường và Ban Quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

Ngày 18/12/1971, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 234/CP quy định chức năng và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương. “Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương là cơ quan của Hội đồng Chính phủ, chịu trách nhiệm về toàn bộ phong trào sản xuất nông nghiệp theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đưa nông nghiệp phát triển theo hướng toàn diện thâm canh, chuyên canh, sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tạo nên nhiều nông sản hàng hoá để đảm bảo nhu cầu của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và đời sống của nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, nông sản để xuất khẩu. Để làm những việc trên đây phải ra sức quản lý một cách có hiệu quả và tiết kiệm mọi năng lực sản xuất (đất đai, nhân lực, vật tư ….), phải ra sức cải tiến quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, bảo đảm quyền làm chủ của xã viên, tăng cường các cơ sở quốc doanh, đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật trong nông nghiệp”.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương theo Nghị định số 234/CP Ngày 18/12/1971

Tổ chức Bộ máy của Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương gồm:Văn phòng Uỷ ban; Vụ Kinh tế Kế hoạch; Vụ Kế toán- tài vụ; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Tuyên giáo, Vụ Quản lý ruộng đất; Vụ Lao động nông nghiệp và lao động tiền lương; Vụ Khoa học kỹ thuật; Ban Thanh tra; Ban phân vùng và quy hoạch nông nghiệp; Ban quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; Ban quản lý nông trường quốc doanh; Ban kinh tế nông nghiệp miền núi và vùng kinh tế mới; Cục cây lương thực và cây thực phẩm; Cục cây công nghiệp, cây ăn quả và cây làm thuốc; Cục chăn nuôi gia súc lớn; Cục chăn nuôi gia súc nhỏ; Cục nuôi cá nước ngọt; Cục dâu tằm; Cục chế biến nông sản; Cục thuỷ nông; Cục công cụ và cơ giới nông nghiệp; Cục xây dựng; Tổng công ty vật tư nông nghiệp; Viện khoa học nông nghiệp; Viện cây lương thực và cây thực phẩm; Viện cây công nghiệp, cây ăn quả, cây làm thuốc; Viện thổ nhưỡng nông hoá; Viện chăn nuôi; Viện thú y; Viện bảo vệ thực vật; Viện công cụ và cơ giới hoá nông nghiệp; Các trường đại học nông nghiệp I, II, III; các Trường nghiệp vụ, trung cấp thực hành, trường đào tạo công nhân kỹ thuật; Học viện kinh tế nông nghiệp. Sau này có thêm Cục Thuỷ nông [10].

 

BỘ NÔNG NGHIỆP (1977)

Nền nông nghiệp nước ta được đặt ra trước nhiệm vụ mới trên địa bàn cả nước. Ngày 11 tháng 3 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 52-CP sửa đổi một số tổ chức của Bộ Nông nghiệp:

Tiếp theo, ngày 08/10/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 275-CP về tổ chức bộ máy quản lý nông nghiệp.

Nghị định 275-CP quy định: “Bộ Nông nghiệp là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý ngành nông nghiệp trong phạm vi cả nước theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc để thoả mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và sản phẩm cho xuất khẩu, xây dựng một nền nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa với một nền khoa học, kỹ thuật tiên tiến. Bộ có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm để thực hiện sự quản lý Nhà nước đối với toàn ngành nông nghiệp trong cả nước, kết hợp với việc tăng cường sự chỉ đạo, giúp đỡ và phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp tỉnh, huyện và đơn vị cơ sở trên nguyên tắc đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất của Trung ương”.

Thực hiện Nghị định số 167-HĐBT ngày 23/4/1981  của Hội đồng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp sẽ chuyển giao sang Bộ Công nghiệp thực phẩm trực tiếp quản lý các nông trường, trạm, trại, về chè, mía, thuốc lá, dừa cọ dầu, dứa, cây ăn quả .... (bao gồm toàn bộ tài sản, kinh phí, tài liệu, cán bộ, công nhân .... thuộc các đơn vị đó).

 

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM (1987)

Thực hiện chủ trương phát triển nền nông nghiệp Việt Nam gắn với chế biến, tiêu thụ theo một quy trình khép kín từ sản xuất-chế biến-tiêu thụ, ngày 16/2/1987, Hội đồng Nhà nước đã có Nghị quyết số 782 NQ HĐNN 7 về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm trên cơ sở sáp nhập 3 Bộ:Nông nghiệp, Lương thực , Công nghiệp thực phẩm .

- Ngày 05/3/1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 46-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm. "Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng, có trách nhiệm thống nhất quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lương thực và công nghiệp thực phẩm trong phạm vi cả nước, theo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân, cho quốc phòng, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu".

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm theo Nghị định 46

Tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm gồm:

1. Bộ máy giúp việc Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm trước mắt gồm có: Văn phòng; Vụ Kế hoạch; Vụ Tài chính kế toán; Vụ Xây dựng cơ bản; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Lao động tiền lương; Vụ Sản xuất; Vụ Lương thực; Vụ Khoa học kỹ thuật; Vụ Hợp tác quốc tế; Ban Quản lý và cải tạo nông nghiệp-công nghiệp thực phẩm; Ban Thanh tra.

Các Vụ, Cục, Ban không tổ chức phòng, thực hiện chế độ thủ trưởng. Vụ, Cục, Ban làm việc trực tiếp với các chuyên viên. Riêng Văn phòng Bộ có thể tổ chức một số phòng như phòng hành chính, quản trị, tổng hợp.

2. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm có trách nhiệm sắp xếp lại các đơn vị sản xuất kinh doanh và đơn vị sự nghiệp của 3 Bộ: Nông nghiệp, Lương thực, Công nghiệp thực phẩm cũ, trình Hội đồng Bộ trởng xét và quyết định. Trước mắt, các đơn vị hiện có được tiếp tục hoạt động bình thường cho đến khi có quyết định mới.

Sau khi thành lập và sắp xếp, tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp gồm có:

46 Cục, Ban, Văn phòng quản lý Nhà nước.

26 Viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ.

13 trường quản lý, kỹ thuật và công nhân.

53 đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc Bộ cấp Công ty, Tổng công ty, Liên hiệp các xí nghiệp, Xí nghiệp liên hợp (quản lý trên 400 đơn vị kinh tế cơ sở).

9 nhà máy, xí nghiệp trực thuộc Bộ.

Tháng 3 năm 1990, Hội đồng Nhà nước quyết định kiện toàn một bước cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng, trong đó giao chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành cao su cho Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm. Phê chuẩn giải thể Tổng cục cao su.

 

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (1995)

Kế thừa và phát huy thành tựu 10 năm đổi mới tổ chức các cơ quan hành chính Nhà nước, Chính phủ đã có định hướng thu gọn các Bộ quản lý ngành hiện có theo chiều hướng chuyển từ Bộ quản lý đơn ngành sang mô hình Bộ quản lý nhà nước nhiều ngành, nhiều lĩnh vực có chức năng gần giống nhau, giảm bớt sự chồng chéo, chia cắt giữa các Bộ; để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ lợi và phát triển nông thôn.

 Từ ngày 03/10 - 28/10/1995, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá IX thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Bộ Thuỷ lợi.

Nhiệm vụ chính trị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được đặt ra không chỉ là nhiệm vụ của các ngành trước đây về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ lợi một cách riêng rẽ mà còn là sự đòi hỏi cao hơn về việc phát triển ngành nông nghiệp và nông thôn một cách bền vững, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đất - nước rừng, gắn chặt hơn nữa sự phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ lợi với việc phát triển nông thôn với đối tượng phục vụ chủ yếu hơn 60 triệu dân sống ở nông thôn, chiếm gần 78 phần trăm dân số cả nước.

Ngày 01/11/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Nghị định 73/CP quy định vị trí, chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: " Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn"

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Nghị định 73-CP ngày 01/11/1995

Cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gồm:

1. Các cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước: Vụ Kế hoạch và quy hoạch; Vụ Đầu tư xây dựng cơ bản; Vụ Khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm; Vụ Chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Tài chính-Kế toán; Vụ Tổ chức-Cán bộ.

2. Các Cục quản lý Nhà nước chuyên ngành: Cục Phát triển Lâm nghiệp; Cục Kiểm lâm; Cục bảo vệ thực vật; Cục Thú y ; Cục Khuyến nông và khuyến lâm; Cục Quản lý nước và Công trình thủy lợi, Cục đê điều và phòng chống lụt bão (kiêm Văn phòng ban chỉ đạo chống lụt bão Trung ương; Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn; Cục định canh định cư và Vùng kinh tế mới.

3. Thanh Tra.

4. Văn phòng.

Năm 1997, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được bổ sung thêm nhiệm vụ quản lý Nhà nước về Diêm nghiệp theo Quyết định số 1128/1997/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển giao chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về sản xuất kinh doanh muối từ Bộ Thương mại sang Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Đến năm 2001, thực hiện Chương trình Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Tờ trình số 38/CP-TCCB ngày 27/7/2002 đề nghị Quốc hội quyết định cơ cấu tổ chức của Chính phủ. Ngày 05/8/2002, Quốc hộ đã có Nghị quyết số 02/2002/QH 11 quy định danh sách các Bộ và cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, trong đó có Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ngày 18/7/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 86/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nghị định quy định "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật".

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Nghị định 86/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gồm:

1. Các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước: Vụ Kế hoạch; Vụ Tài chính; Vụ Khoa học công nghệ; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Pháp chế; Vụ Tổ chức cán bộ; Cục Nông nghiệp; Cục Bảo vệ thực vật; Cục Thú y; Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối; Cục Lâm nghiệp; Cục Kiểm lâm; Cục Thủy lợi; Cục Quản lý đê điều và phòng, chống lụt, bão; Cục Quản lý xây dựng công trình; Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn; Thanh tra;Văn phòng.

2. Các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ: 1. Trung tâm Tin học; Trung tâm Khuyến nông Quốc gia; Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn; Báo Nông nghiệp Việt Nam; Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Đối với hệ thống đơn vị sự nghiệp còn lại hiện có, Nghị định 86/2003/NĐ-CP quy định: " Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ xây dựng đề án sắp xếp và cơ chế quản lý đối với các viện, các trường và các đơn vị sự nghiệp khác thuộc Bộ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định trước ngày 30 tháng 6 năm 2004. Trong khi Thủ tướng Chính phủ chưa có quyết định mới, các đơn vị sự nghiệp hiện có thuộc Bộ hoạt động theo quy định hiện hành".

Theo số liệu, các đơn vị sự nghiệp còn lại trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang được Bộ xây dựng đề án sắp xếp gồm:

19 Viện nghiên cứu khoa học và 3 trung tâm nghiên cứu trực thuộc Bộ.

38 Trường đào tạo gồm 2 trường Đại học, 2 trường Cán bộ quản lý, 2 Trường Cao đẳng nông lâm, 13 trường Trung học và 19 trường dạy nghề.

Các đơn vị sự nghiệp khác, gồm 8 Vườn quốc gia, 3 Viện quy hoạch, các đơn vị sự nghiệp chuyên ngành (gồm Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, các Ban quản lý dự án có vốn viện trợ nước ngoài); sự nghiệp y tế gồm bệnh viện, Trung tâm y tế lao động).

 

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (8/ 2007)

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XII (tháng 8/2007) đã quyết định hợp nhất Bộ Thuỷ sản vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ngày 03/01/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Nghị định quy định "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật".

Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Nghị định 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008

 

 

 

 

 

 

 

 

 


[1]Quyết nghị của Hội đồng Chính phủ họp ngày 14/11/1945 về việc lập Bộ Canh nông.

[2]Gồm: phòng Nhất: Công văn; Phòng Nhì: Viên chức; Phòng ba: Ngân sách-Kế toán-Vật liệu; Phòng Tư: Liên lạc với các nha chuyên môn trong Bộ-Lập chương trình hành động…; Phòng Năm: Thống kê-Thư viện-Sưu tầm tài liệu canh nông tập san; Phòng Sáu: Chính sách canh nông.

 

[3]Nha Nông chính có các cơ quan canh nông: Viện Khảo cứu Canh nông; Sở Khuyến nông; Sở Khẩn hoang và Di dân; Sở Xã dân công tác; Túc mễ cục; Ty Nông học.

 

[4]Nhiệm vụ của Nha Lâm chính theo Nghị định số 01 nêu trên là: "làm các việc về hành chính và chuyên môn về rừng rú và săn bắn". Tiếp theo, ngày 11 tháng 3 năm 1946, Bộ Canh nông ban hành Nghị định về tổ chức Nha Lâm chính, trong đó quy định Nha Lâm chính được chia thành 3 Ban: Ban Hành chính, Ban Tài chính và Ban Chuyên môn. Ngày 28 tháng 10 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Canh nông đã ban hành Nghị định số 508/BCN về tổ chức lại Nha Lâm chính. Theo đó, hệ thống tổ chức Nha Lâm chính được tổ chức theo địa giới hành chính và có 4 cấp quản lý rừng trực thuộc Bộ là: Nha Tổng giám đốc, Quận Lâm chính, Hạt Lâm Chính. Sau này Nha Lâm chính đổi tên thành Nha Thuỷ lâm theo Sắc lệnh số 69 ngày 14 tháng năm 1950 của Chính phủ.

 

[5]Sau hoà bình lập lại ít lâu, nhập lại thành Viện Khảo cứu Nông Lâm.

 

[6] Vụ Thuỷ lâm là cơ quan tham mưu giúp Bộ Canh nông quản lý và phát triển lâm nghiệp trên toàn miền Bắc Việt Nam.

 

[7] Ngày 17/02/1955, Bộ Nông lâm ban hành Nghị định số 03-NL/TQ/NĐ tổ chức một Quốc doanh Lam khẩn ở Trung ương đặt trong Vụ Lâm nghiệp. Vụ có hai bộ phận Lâm nghiệp và một Quốc doanh Lâm khẩn.

[8]Chính phủ Việt Nam 1945-2000, Nhà Xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, trang 87.

[9] Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương lúc bấy giờ là một tổ chức quản lý Nhà nước ngang Bộ. Sau này Uỷ ban đổi tên thành Bộ Nông nghiệp.

 

[10]Quyết định số 120-CP ngày 16/6/1972 của Hội đồng Chính phủ.

 

Xem tin theo ngày: